THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 68/TB-VKS-DS NGÀY 31/10/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN LÀ DI SẢN THỪA KẾ”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở để xác định:

Trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông Tân, bà Mười cho rằng thửa đất số 509, tờ bản đồ số 7, diện tích 440m² được cụ Đìa tặng cho theo Giấy ủy quyền ngày 22/8/2001 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Ân Thạnh. Tuy nhiên, tại Giấy ủy quyền ngày 22/8/2001 chỉ có nội dung ông Tân, bà Mười được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 509, không thể hiện việc tặng cho. Điều này phù hợp với lời khai của cụ Đìa tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân ngày 22/6/2010.

Đồng thời, căn cứ vào xác nhận của chính quyền địa phương về nhà ở đang tranh chấp của ông Tân ngày 21/02/2005, giấy ủy quyền cho con ông Tân sử dụng nhà ở của ông Tân ngày 14/5/2014 và lời khai của những người làm chứng thì có cơ sở để xác định thửa đất số 509, tờ bản đồ số 7 là di sản của cụ Đìa để lại chưa chia và ngôi nhà đang tranh chấp thuộc sở hữu chung của ông Tân, bà Mười.

Việc chia di sản của cụ Đìa bằng hiện vật theo yêu cầu của các đồng thừa kế cần phải trích công sức đóng góp của bà Mười bằng 01 kỷ phần thừa kế và xem xét gia đình bà Mười đã sinh sống trên đất hơn 30 năm và không còn nơi ở nào khác. Theo Biên bản làm việc ngày 22/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Ủy ban nhân dân xã Ân Thạnh; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/6/2022; Công văn số 02/CV-CT ngày 28/8/2023 của Công ty Cổ phần tư vấn Đạt Phương cho thấy ngoài phần diện tích đất có nhà ở của gia đình ông Tân, bà Mười xây dựng thì phần diện tích đất còn lại 123,6m² vẫn đảm bảo chia bằng hiện vật cho các đồng thừa kế để làm nhà từ đường.

Bên cạnh đó, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 73/2011/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2011 thì việc ly hôn của ông Tân, bà Mười chưa giải quyết về tài sản chung. Sau khi ông Tân, bà Mười được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Bản án dân sự phúc thẩm số 113/2019/DS-PT ngày 26/7/2019 thì ông Tân, bà Mười đã lập Hợp đồng tặng cho nhà, đất tranh chấp cho chị Nguyễn Thị Mỹ Trang và chị Trang đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 569265 ngày 15/4/2021.

Tòa án sơ thẩm nhận định sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất, vợ chồng ông Tân, bà Mười lập Hợp đồng tặng cho toàn bộ nhà đất cho chị Nguyễn Thị Mỹ Trang và chị Trang đã được cấp GCNQSDĐ ngày 15/4/2021 để không giao một phần diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu của các nguyên đơn và những người thừa kế của cụ Đìa là không hợp lý, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế.

Do đó, Bản án dân sự phúc thẩm số 234/2023/DS-PT ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Phước Thắng và chấp nhận Quyết định kháng nghị số 07/QĐ-VKS-DS ngày 25/5/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 01/4/2021 đối với diện tích đất 316,4m², thửa đất số 509 và tuyên bố vô hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 01/4/2021 đối với diện tích 123,6m² đã giao cho bà Nguyễn Thị Ngọ, bà Nguyễn Thị Mộng Hòa, bà Nguyễn Thị Phúc, ông Nguyễn Phước Thắng, ông Nguyễn Hữu Lợi, bà Nguyễn Thị Ninh.

Trong quá trình kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã kịp thời báo cáo đề nghị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Bản án dân sự số 04/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản là di sản thừa kế", Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.