Thông báo rút kinh nghiệm số 22/TB-VC2-V2 ngày 24/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng vụ án “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 22/TB-VC2-V2 NGÀY 24/02/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỤ ÁN “TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Về nguồn gốc, diện tích và ranh giới đất tranh chấp: Nguồn gốc đất của hộ ông Võ Thắng là nhận chuyển nhượng từ năm 1995 của một người dân tộc Thái không rõ lai lịch và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 25/12/2000, hộ ông Thắng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa số 57 tờ bản đồ 54 tại thôn Ea Chăm, xã Đliê Ya (nay là xã Ea Tân), huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk với diện tích 19.520m². Năm 2017, ông Thắng chuyển nhượng 10.244,6 m² cho ông Trần Ngọc Lương, bà Nguyễn Thị Vỹ (phần tiếp giáp với đất ông Khoa, hiện nay đất thuộc thửa 108). Diện tích đất còn lại của ông Thắng là 9.275,5 m² (thuộc thửa 57).

Nguồn gốc đất của ông Dương Minh Khoa, bà Vũ Thị Lân là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Trọng Thanh, bà Nguyễn Thị Mai Thảo vào ngày 22/11/2015, diện tích 12.305m² (ông Thanh, bà Thảo được ông Nguyễn Trọng Phùng tặng cho 12.305m² đất vào năm 2005). Ngày 17/3/2016, ông Khoa, bà Lân được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 28a, tờ bản đồ 54.

Cũng trong ngày 22/11/2015, ông Thanh, ông Khoa với ông Thắng, ông Tuấn (con của ông Thắng) đã lập “Giấy xác nhận bờ lô" thể hiện: Phần ranh giới giữa 02 thửa đất của ông Khoa với ông Thắng là hàng mít (chỉ còn gốc mít) dọc hai hàng cà phê của 02 bên phóng thẳng lên cây đẻ làm đường ranh giới, hai bên thống nhất không trồng bất cứ cây gì, để làm đường đi chung.

Tại Trích đo địa chính thửa đất do Công ty TNHH Đo đạc - Tư vấn Nông Lâm nghiệp Đắk Lắk đo vẽ thể hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích 755,6m². Thửa đất 28a hiện nay ông Khoa đang sử dụng có diện tích là 10.934,4m² (11.690m² 755,6m²). Thửa đất 57 hiện nay ông Thắng đang sử dụng có diện tích 12.141,4m² (12.897m² - 755,6m²). Thửa đất 108 hiện nay ông Lương, bà Vỹ đang sử dụng có diện tích 10.300,6m².

Như vậy, so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (không tính diện tích đất tranh chấp) diện tích đất của ông Khoa (thửa 28a) thiếu 1.370,6m² (12.305m² -10.934,4m²), còn diện tích đất của ông Thắng (thửa 57) thừa 2.865,9m² (12.141,4m²- 9.275,5m²). Diện tích đất của ông Lương, bà Vỹ thừa 56m². Tổng diện tích đất của ông Thắng và ông Lương thừa 2.921,9m².

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thu thập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu của 02 hộ tranh chấp mà chỉ thu thập hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận và hồ sơ tách thửa đối với các thửa đất liên quan. Do vậy, đơn vị đo đạc chỉ căn cứ vào ranh giới do chủ sử dụng đất chỉ dẫn để đo đạc mà không xác định được ranh giới được cấp Giấy chứng nhận của các bên. Từ đó không xác định được vì sao ông Thắng thừa đất? Vì sao ông Khoa thiếu đất? Diện tích đất tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ nào?.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Thắng, bà Tự trả cho ông Khoa, bà Lân diện tích đất 1.320m², trong khi diện tích đất tranh chấp (theo kết quả đo đạc) chỉ có 755,6m², là không có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Khoa, bà Lân; các bên có quyền khởi kiện tranh chấp lối đi chung thành vụ kiện khác, là không giải quyết triệt để vụ án.

Trên đây là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” bị Ủy ban Thẩm phan Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để xét xử lại sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trong khu vực nghiên cứu, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự./.