THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 20/TB-VC3-V4 NGÀY 05/9/2019 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG, PHÁ SẢN BỊ TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TUYÊN HỦY, SỬA 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng dân sự

1.1. Vi phạm do không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được pháp luật bảo vệ

Điển hình là vụ án KDTM “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phương Đông (Ngân hàng Phương Đông) với bị đơn là ông Nguyễn Hoàng Phú Quí. Ngân hàng Phương Đông cho ông Quí vay số tiền 200.000.000 đồng, để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho ông Quí thì vợ chồng ông Nguyễn Văn Chánh và bà Trần Thị Lệ Hằng (là cha mẹ của ông Quí) đã thế chấp quyền sử dụng 2.030m đất thuộc thửa số 147 tờ bản đồ Số 02, tại Khóm 1, Phường 2, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (thửa đất số 147) thông qua Hợp đồng thế chấp số 061.10.00460/HĐTC ngày 29/12/2010.

Tuy nhiên trước đó thửa đất số 147 đã bị Chi cục thi hành án dân sự ra Quyết cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất để thi hành Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực khác của Tòa án (vợ chồng ông Chánh phải trả cho ông Nguyễn Văn Thạnh 1.603.888.270 đồng), ngày 25/8/2010 Chi cục thi hành án dân sự đã lập biên bản kê biên quyền sử dụng thửa đất số 147 đã được bà Trần Thị Lệ Hằng ký biên bản.

Do ông Nguyễn Hoàng Phú Quí vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Phương Đông khởi kiện yêu cầu ông Quí phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền gốc là 200.000.000 đồng và lãi theo thỏa thuận. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Như vậy, việc giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn Thạnh nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Thạnh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

Do đó, Viện cấp cao 3 đã kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định Công nhận thỏa thuận giữa các đương nêu trên và đã được Tòa cấp cao xét xử chấp nhận kháng nghị tuyên hủy Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trên, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

1.2. Vi phạm trong việc đình chỉ giải quyết vụ án

Điển hình là vụ án KDTM “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đồng Nai và bị đơn là Công ty TNHH Tân Thuyết (Công ty Tân Thuyết). Tại Quyết định tái thẩm số 30/2017/KDTM-TT ngày 06/7/2017 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị Tuyết vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ông Quang Vĩnh Thuận phải tham gia với với hai tư cách khác nhau, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định ông Thuận là đại diện của Công ty là không đủ. Bà Tuyết và ông Thuận không bảo lãnh cho khoản vay của bà Nguyễn Thị La nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại ghi nhận sự thỏa thuận “... sau khi phát mãi tài sản sẽ ưu tiên thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, còn lại mới đảm bảo thanh toán cho khoản nợ cho bà Nguyễn Thị La” là không đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án, sau đó ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Công ty Tân Thuyết kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm tuyên hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Tân Thuyết.

Xét thấy, khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án cũng như ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vẫn không đưa bà Nguyễn Thị Tuyết vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Sau đó Tòa án cấp sơ thẩm có ban hành Thông báo và Quyết định sửa chữa bổ sung, tuy nhiên theo quy định tại khoản 4 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án pháp có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Như vậy, mặc dù nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định quyền lợi của bà Nguyễn Thị La trong vụ án, chưa có sự đồng ý của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là trái pháp luật. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa giải quyết hậu quả của việc thi hành án mà trong Quyết định tái thẩm đã nhận định.

Tại phiên họp phúc thẩm, Viện cấp cao 3 đã đề nghị và Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Công ty Tân Thuyết, tuyên hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

1.3. Khi giải quyết vụ án Tòa án không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp dẫn đến bỏ sót người tham gia tố tụng

Điển hình là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và bị đơn là Công ty Cổ phần Du lịch Đất (Công ty Du lịch Đất). Agribank khởi kiện yêu cầu Công ty Du lịch Đất thanh toán tổng số tiền nợ gốc, tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng, hợp đồng tín dụng bổ sung và các giấy nhận nợ tính đến ngày 10/12/2015 là 50.870.851.279 đồng cùng với tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc còn thực nợ từ ngày 11/12/2015 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp Công ty Du lịch Đất không trả được nợ thì phát mãi các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của Công ty TNHH Tư vấn - Dịch vụ - Thương mại Thanh Bình (Công ty Thanh Bình) để thu hồi nợ cho Agribank.

Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật thì các ông, bà Bùi Thiếu Quốc, Nguyễn Thị Ngọc, Đỗ Thị Khánh, Nguyễn Phúc Tuấn, Hoàng Thị Vượng, Nguyễn Thị Tâm, Hồ Lữ Việt, Nguyễn Thị Ánh, Nguyễn Quốc Sự và Nguyễn Văn Minh có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với lý do những người này đã nhận chuyển nhượng một số thửa đất trên của Công ty Thanh Bình từ năm 2005, 2006, 2007, 2008. Công ty Thanh Bình đã bàn giao đất và các ông bà nói trên đã xây nhà ở trên đất trong một thời gian dài. Việc Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi các tài sản trên để thi hành án là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ.

Tòa án cấp cao đã xác minh, thu thập chứng cứ xác định trước khi thế chấp cho Agribank thì Công ty Thanh Bình đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các ông, bà Bùi Thiếu Quốc, Nguyễn Thị Ngọc, Đỗ Thị Khánh, Nguyễn Phúc Tuấn, Hoàng Thị Vượng, Nguyễn Thị Tâm, Hồ Lữ Việt, Nguyễn Thị Ánh, Nguyễn Quốc Sự và Nguyễn Văn Minh. Các ông bà trên đã thanh toán tiền và một số người đã xây dựng nhà ở trên đất. Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp nên không phát hiện ra sự việc này. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa những ông bà nói trên tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết quyền lợi của họ.

Do đó, Chánh án Tòa án cấp cao đã có Quyết định kháng nghị đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên. Viện cấp cao 3 đã đề nghị và được Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị tuyên hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.

2. Vi phạm nghiêm trọng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật

2.1. Vi phạm về thu thập, đánh giá chứng cứ

Việc thu thập chứng cứ là cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án đúng pháp luật. Trong số 06 vụ án bị Tòa cấp cao tuyên hủy án, sửa án (án phúc thẩm) có 04 vụ (chiếm tỷ lệ 66,66%) và nhiều vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm bị tuyên hủy do Tòa án cấp dưới giải quyết vụ án khi chưa điều tra, thu thập đầy đủ chứng cứ, nhận diện sai về chứng cứ dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và của người khác.

Điển hình là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa nguyên đơn là Công ty Cổ phần Việt Sing (Công ty Việt Sing) và bị đơn là Công ty TNHH Thương mại sản xuất dịch vụ Hùng Thành Phát (Công ty Hùng Thành Phát). Ngày 15/9/2014 giữa Công ty Việt Sing và Công ty Hùng Thành Phát đã ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với nội dung Công ty Việt Sing mua của Công ty Hùng Thành Phát 01 máy phát điện hiệu CUMMINS đã qua sử dụng và bình ắc quy kèm theo máy với giá 1.250.000.000 đồng.

Công ty Việt Sing cho rằng đã chuyển cho Công ty Hùng Thành Phát số tiền 600.000.000 đồng nhưng Công ty Hùng Thành Phát không giao máy phát điện, do đó Công ty Việt Sing khởi kiện yêu cầu Công ty Hùng Thành Phát trả lại tiền và tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 840.300.000 đồng. Phía Công ty Hùng Thành Phát cho rằng đã bàn giao máy cho Công ty Việt Sing nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty Việt Sing, đồng thời có yêu cầu phản tố đề nghị Công ty Việt Sing phải thanh toán hết số tiền còn lại theo hợp đồng đã ký kết và tiền lãi phát sinh với tổng số tiền là 908.817.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xét xử cho rằng Công ty Hùng Thành Phát đã bàn giao máy phát điện đúng theo hợp đồng cho Công ty Việt Sing nên đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Việt Sing, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Hùng Thành Phát, buộc Công ty Việt Sing phải trả cho Công ty Hùng Thành Phát số tiền 908.817.000 đồng.

Xét thấy, Công ty Hùng Thành Phát cho rằng đã giao máy phát điện cho Công ty TNHH Trường Thịnh (Công ty Trường Thịnh) theo chỉ định của Công ty Việt Sing. Tuy nhiên, về phía người đại diện theo pháp luật của Công ty Trường Thịnh là ông Vũ Văn Thiều thì trình bày mặc dù ông có cử nhân viên là ông Nguyễn Minh Tân và ông Huỳnh Khánh Duy nhận máy phát điện do ông Nguyễn Văn Thạnh giao, nhưng việc giao máy phát điện là để nhằm mục đích giảm thiệt hại cho Công ty TNHH Thương mại Lợi Lợi chứ ông Thiều hoàn toàn không biết Công ty Hùng Thành Phát.

Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm cho rằng ông Thiều là cổ đông lớn của Công ty Việt Sing và Công ty Hùng Thành Phát đã xuất hóa đơn VAT để xác định Công ty Hùng Thành Phát đã bàn giao máy phát điện cho Công ty Việt Sing là chưa đủ căn cứ. Vì ông Thiều không phải là người đại diện hợp pháp của Công ty Việt Sing, không được Công ty Việt Sing ủy quyền để nhận máy phát điện, bản thân ông Thiều cũng không biết Công ty Hùng Thành Phát, không biết loại máy phát điện nào mà chỉ nhớ có mua máy phát điện vào năm 2003 của Công ty Việt Nhật. Ngoài ra, biên bản bàn giao máy móc thiết bị do ông Huỳnh Khánh Duy ký nhận chỉ ghi tháng 10/2014 (không có ngày), biên bản nghiệm thu thử tải máy phát điện thì do ông Nguyễn Minh Tân ký ngày 08/10/2014.

Như vậy, với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì chưa đủ cơ sở xác định Công ty Việt Sing đã nhận bàn giao máy phát điện như Công ty Hùng Thành Phát trình bày hay chưa. Để có căn cứ giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật thì cần phải lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Thạnh, ông Nguyễn Minh Tân, ông Huỳnh Khánh Duy hoặc cho đối chất giữa những người này, thu thập thêm chứng cứ khác nhằm xác định có hay không việc bàn giao máy phát điện giữa các bên, nếu có thì bàn giao loại máy nào, có phải bàn giao máy phát điện mà Công ty Việt Sing mua của Công ty Hùng Thành Phát không

Do đó, Chánh án Tòa án cấp cao đã có Quyết định kháng nghị đối với Bản án phúc thẩm. Viện cấp cao 3 đã đề nghị và được Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị, tuyên hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

2.2. Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá chứng cứ không chính xác nên hủy án sơ thẩm không đúng pháp luật

Điển hình là vụ án “Tranh chấp hợp đồng xây dựng, hợp đồng nạo vét lòng sông và hợp đồng xin cấp phép cho tàu vào cảng” giữa nguyên đơn là Công ty Cổ phần Đức Khánh (Công ty Đức Khánh) và bị đơn là Công ty TNHH Công nghiệp Fu-I (Công ty Fu-I). Từ năm 2009 đến năm 2012, giữa Công ty Fu-I với Công ty Đức Khánh đã ký kết và thực hiện các hợp đồng: Hợp đồng xây dựng cảng xuất nhập nguyên liệu số 03-01 ngày 01/3/2009; Hợp đồng nạo vét lòng sông khu vực cảng Long An ký ngày 27/3/2012 và Hợp đồng kinh tế xin cấp phép cho tàu vào cảng Long An ký ngày 27/12/2011 cùng Phụ lục Hợp đồng kinh tế số 01 xin cấp phép cho tàu vào cảng Long An và khảo sát lập bình đồ lần 2 ký ngày 24/4/2012.

Đối với Hợp đồng xây dựng cảng xuất nhập nguyên liệu số 03-01 ngày 01/3/2009 và Hợp đồng nạo vét lòng sông khu vực cảng Long An ký ngày 27/3/2012, Công ty Fu-I thừa nhận có Giấy xác nhận nợ ngày 19/02/2014 nhưng lại cho rằng Giấy nợ này do ông Lin Pen Yuan ký, mà ông Lin Pen Yuan chỉ là người giúp Công ty Fu-I quản lý chất lượng và tiến độ thi công công trình, ông không có thẩm quyền gì trong Công ty. Hơn nữa, khoản tiền nợ này đã hết thời hiệu khởi kiện, nên Công ty Fu-I không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty Đức Khánh.

Xét thấy, khi xác lập hợp đồng các bên thỏa thuận là tổng giá trị thanh toán sẽ căn cứ vào khối lượng công việc thực tế hoàn thành, được cán bộ giám sát của Công ty Fu-I nghiệm thu trong biên bản nghiệm thu nhân với đơn giá thỏa thuận tại hợp đồng. Sau đó, trên cơ sở việc nghiệm thu mỗi tháng một lần, Công ty Fu- sẽ thanh toán cho Công ty Đức Khánh 80% tổng giá trị, trong vòng 30 ngày kể từ khi Công ty Fu-I có hồ sơ thanh toán (gồm Biên bản nghiệm thu, hóa đơn giá trị gia tăng, giấy xác nhận thanh toán) và việc thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Các chứng cứ thể hiện như Biên bản nghiệm thu, khối lượng công trình hàng tháng, biên bản bàn giao công trình đã hoàn thành đều do ông Lin Pen Yuan đại diện cho Công ty Fu-I ký tên và đóng dấu. Trên cơ sở đó Công ty Fu-I thanh toán tiền cho Công ty Đức Khánh thông qua hình thức chuyển khoản. Thực tế, Công ty Fu-I cũng đã thanh toán cho Công ty Đức Khánh một phần số tiền bằng phương thức này, số nợ còn lại đến ngày 19/02/2014 chính ông Lin Pen Yuan lập “Thư xác nhận nợ, vay” xác nhận Công ty Fu-I còn nợ Công ty Đức Khánh số tiền 3.599.253.378 đồng và đề nghị Công ty Đức Khánh xác nhận, ngày 24/02/2014 ông Đào Văn Thiện là Giám đốc Công ty Đức Khánh đã ký xác nhận vào văn bản này. Trong Báo cáo tài chính năm 2013 do Tổng giám đốc Công ty Fu-l ký gửi Công ty Kiểm toán Sao Việt cũng ghi rõ khoản nợ này. Điều đó có căn cứ xác định Thư xác nhận nợ ngày 19/02/2014 do ông Lin Pen Yuan ký, đóng dấu thì lãnh đạo Công ty Fu-I hoàn toàn biết và thừa nhận, nên Công ty Fu-I phải có trách nhiệm đối với khoản nợ này.

Về thời hiệu khởi kiện, như đã phân tích thì sau khi hoàn thành các công trình theo các hợp đồng đã ký, bên Công ty Fu-I chưa thanh toán hết cho Công ty Đức Khánh nên đến ngày 19/02/2014 đã lập “Thử xác nhận nợ, vay” và Công ty Đức Khánh đã ký xác nhận vào ngày 24/02/2014. Đến ngày 12/03/2015, Công ty Đức Khánh có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty Fu-I phải trả khoản nợ trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 162 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì trường hợp này là còn trong thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Đức Khánh, buộc Công ty Fu-I có trách nhiệm phải thanh toán tiền nợ còn thiếu cho Công ty Đức Khánh là đúng pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Thư xác nhận nợ ngày 19/02/2014 do ông Lin Pen Yuan ký không có giá trị pháp lý và đơn khởi kiện của Công ty Đức Khánh yêu cầu Công ty Fu-I thanh toán nợ đã hết thời hiệu khởi kiện nên đã hủy một phần Bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Đức Khánh về việc tranh chấp Hợp đồng số 03-01 ngày 01/3/2009 và Hợp đồng nạo vét lòng sông ngày 27/3/2012 với Công ty Fu-I là không đúng pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Đức Khánh.

Do đó, Viện cấp cao 3 đã kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị hủy Bản án của Tòa án cấp phúc thẩm, giữ nguyên Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và đã được Tòa cấp cao xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện cấp cao 3 tuyên hủy Bản án của Tòa án cấp phúc thẩm và giữ nguyên Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.

2.3. Vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

a) Áp dụng không đúng quy định pháp luật về phạm vi nghĩa vụ bảo đảm, vượt quả phạm vi nghĩa vụ bảo đảm.

Điển hình là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và bị đơn là Công ty TNHH Cơ khí Vận tải Ô tô Tiến Đạt (Công ty Tiến Đạt). Ngày 31/5/2016 giữa Agribank và Công ty Tiến Đạt đã ký kết Hợp đồng tín dụng với nội dung Agribank cho Công ty Tiến Đạt vay hạn mức là 34.000.000.000 đồng. Cùng ngày các bên đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 109 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của bà Bùi Thị Tấm được dùng để bảo đảm cho số tiền gốc 9.000.000.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên.

Tại các Bản tự khai, Biên bản hòa giải thì bà Tấm chỉ đồng ý dùng tài sản là nhà đất của mình tại số 109 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để bảo đảm cho số tiền Công ty Tiến Đạt vay của Agribank bao gồm nợ gốc là 9.000.000.000 đồng và lãi phát sinh đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp mà bà Bùi Thị Tấm đã ký với Agribank.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử trong trường hợp Công ty Tiến Đạt không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ tổng cộng là 10.602.414.069 đồng (nợ gốc là 9.546.641.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 1.055.773.069 đồng) thì Agribank được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ nhưng không phân định rõ phạm vi nghĩa vụ bảo đảm, vượt quá phạm vi nghĩa vụ bảo đảm đối với khoản nợ gốc là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tấm, không đúng với quy định tại Điều 293 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, Viện cấp cao 3 đã kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị hủy Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và đã được Tòa cấp cao xét xử chấp nhận kháng nghị, tuyên hủy Bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật.

b) Xác định hợp đồng vô hiệu không đúng quy định của pháp luật, chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại không đúng thỏa thuận của các bên đương sự.

Điển hình là vụ án “Tranh chấp hợp đồng Phân phối độc quyền, Yêu cầu thanh toán tiền mua hàng” giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn (Công ty Yến Sào) và bị đơn là Công ty Cổ phần Yến Việt (Công ty Yến Việt). Công ty Yến Sào và Công ty Yến Việt đã ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 02/HĐNT tháng 10 năm 2010 về việc phân phối độc quyền phía Bắc (Hợp đồng số 02). Tại Điều 7 của Hợp đồng quy định “Bên B được phân phối độc quyền trong thời hạn 10 (mười) năm trên khu vực phía Bắc, từ Nghệ An trở ra” và tại Điều 8 của Hợp đồng quy định “Hợp đồng này có giá trị kể từ ngày ký” nhưng Hợp đồng không ghi ngày và không xác định được ngày các bên ký hợp đồng nên căn cứ khoản 2 Điều 152 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của ngày được xác định”, do đó thời hạn của Hợp đồng số 02 được xác định 10 năm kể từ ngày 01/11/2010 đến hết ngày 01/11/2020. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định do hợp đồng không ghi ngày để xác định Hợp đồng vô hiệu là không đúng, nhưng lại chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Yến Việt chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng là đánh giá chứng cứ mâu thuẫn.

Xét Hợp đồng số 02 cho thấy: Tại Điều 1 Hợp đồng số 02, quy định: “Khi ký hợp đồng này với Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn, bên A không được ký hoặc giao hàng cho bất kỳ đơn vị nào khác trên phạm vi lãnh thổ mà bên A giao cho bên B làm nhà phân phối độc quyền (Từ Nghệ An trở ra phía Bắc). Mọi đại lý cấp 2, nếu có nhu cầu kinh doanh sản phẩm của Yến Việt đều phải đặt hàng thông qua Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn. Trên bao bì sản phẩm sẽ có tem độc quyền của Yến Việt và tem phụ của Yến Sào Sài Gòn”. Nội dung thỏa thuận phù hợp với khoản 2 Điều 169 Luật Thương mại năm 2005: “Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung cấp một hoặc một số loại dịch vụ nhất định”. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng số 02 Công ty Yến Việt vẫn bán sản phẩm từ Yến của Công ty Yến Việt trên phạm vi lãnh thổ (Thành phố Hà Nội) đã giao cho Công ty Yến Sào làm nhà phân phối độc quyền. Như vậy, việc Công ty Yến Việt tiếp tục bán sản phẩm từ Yến là đã vi phạm Điều 1 của Hợp đồng số 02 nêu trên.

Ngoài ra, Công ty Yến Việt phản tố yêu cầu chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn mà không có sự đồng ý của Công ty Yến Sào là vi phạm Điều 8 điểm 2 của Hợp đồng số 02, quy định “Bên A, Bên B không được tự ý sửa chữa, chuyển nhượng, hủy bỏ hay dừng Hợp đồng mà không có sự đồng ý của Bên kia”.

Căn cứ Điều 11 Hợp đồng số 02, quy định: “Nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên nào vi phạm các điều đã cam kết trong hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên kia số tiền là 10.000.000.000 đồng”.

Xét thấy sự thỏa thuận của các bên hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp đặc thù của loại hợp đồng phân phối độc quyền, các bên khi tham gia giao kết hợp đồng đều không thể xác định cụ thể giá trị hợp đồng vì hợp đồng được thực hiện trong thời hạn 10 năm nên không thỏa thuận về mức phạt hợp đồng theo Điều 301 Luật thương mại năm 2005. Đồng thời cũng không thể xác định cụ thể giá trị thiệt hại của hợp đồng độc quyền vì ngoài những chi phí đầu tư phục vụ cho việc quảng cáo tiêu thụ sản phẩm còn là thiệt hại vô hình đó là thương hiệu, là uy tín, là lượng khách hàng trên thị trường phía Bắc (từ Nghệ an trở ra), nên khi tham gia hợp đồng các bên tự thỏa thuận mức 10.000.000.000 đồng làm giá trị triệt hại mà một trong các bên vi phạm sẽ phải bồi thường cho bên kia. Tòa án sơ thẩm xác định Công ty Yến Việt đã vi phạm Hợp đồng số 02 là có căn cứ, nhưng chỉ buộc Công ty Yến Việt bồi thường cho Công ty Yến 4.000.000.000 đồng là không có cơ sở, cần buộc Công ty Yến Việt phải bồi thường cho Công ty Yến Sào 10.000.000.000 đồng mới đúng theo thỏa thuận của Hợp đồng số 02. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu này của Công ty Yến Sào là không đúng pháp luật.

Do đó, Viện cấp cao 3 đã kháng nghị giám đốc thẩm và được Toà án cấp cao xét xử chấp nhận kháng nghị, tuyên hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật./.