Thông báo rút kinh nghiệm số 65/TB-VC2-DS ngày 24/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với vụ án dân sự “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 65/TB-VC2-DS NGÀY 24/8/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Tại điểm b Điều 3 của Hợp đồng khoán trồng rừng và bảo vệ rừng giữa Ban Quản lý dự án trồng rừng Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam với hộ ông Trần Văn Dũng, quy định: “... Khi chủ hộ thấy mình không có khả năng quản lý, sử dụng diện tích đã được giao thì báo cáo cho Ban Quản lý Dự án để giải quyết và giao cho người khác quản lý và sử dụng”. Như vậy, việc ông Trần Văn Dũng tự ý chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nhận khoán với Ban Quản lý dự án trồng rừng Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam cho ông Nguyễn Văn Sáu là không đúng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định có việc chuyển nhượng đất giữa ông Trần Văn Dũng và ông Nguyễn Văn Sáu và nhận định giao dịch này là vô hiệu (do vi phạm điều cấm), nhưng khi quyết định thì tuyên công nhận diện tích đất thuộc về quyền quản lý sử dụng của gia đình bà Nguyễn Thị Liễu; buộc gia đình bà Nguyễn Thị Liễu phải hoàn trả lại 30.000.000 đồng (tiền chuyển nhượng đất) và thối trả giá trị tài sản (cây keo) trên đất là 9.648.000 đồng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Sáu, bà Trần Thị Hoa, trong khi chưa tuyên bố giao dịch trên là vô hiệu, cũng như chưa giải quyết triệt để hậu quả pháp lý về nghĩa vụ trả lại đất, việc bồi thường thiệt hại theo mức độ lỗi đối với giao dịch dân sự vô hiệu là thiếu sót (cần lưu ý, trong trường hợp này, việc giải quyết hậu quả pháp lý nêu trên không đơn thuần dựa vào việc có hay không có yêu cầu cụ thể của bị đơn, vì bị đơn không đồng ý trả lại đất cho nguyên đơn mà đề nghị theo hướng xác định giao dịch chuyển nhượng đất có hiệu lực, nên không thể nêu ra yêu cầu ngược lại).

Đối với diện tích đất tranh chấp, các bên không có giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, chỉ có Hợp đồng khoán trồng rừng và bảo vệ rừng do Ban Quản lý dự án trồng rừng huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam khoán cho hộ ông Trần Văn Dũng. Hiện tại diện tích đất vẫn do Uỷ ban nhân dân xã Thăng Phước, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam quản lý. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc về quyền quản lý, sử dụng của gia đình bà Nguyễn Thị Liễu là không chính xác. Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Ủy ban nhân dân xã Thăng Phước, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam (chủ thể quản lý đất) không có yêu cầu độc lập đối với diện tích đất mà các bên tranh chấp, đồng thời chưa có văn bản pháp lý nào thể hiện đã chấm dứt Hợp đồng khoán trồng rừng và bảo vệ rừng đối với hộ ông Trần Văn Dũng nên trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm nhận định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu như trên thì chỉ tuyên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp về Hợp đồng khoán trồng rừng và bảo vệ rùng thì sẽ được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh tại các cơ quan chức năng có liên quan về việc không đồng nhất giữa các thông số vị trí thửa đất tranh chấp thể hiện theo các giấy tờ, tài liệu, hiện trạng sử dụng đất.

Bên cạnh đó, tại hồ sơ vụ án thể hiện việc khoán trồng rừng và bảo vệ rừng là cho hộ gia đình ông Trần Văn Dũng vào năm 2001, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ hộ gia đình ông Trần Văn Dũng gồm những ai để xem xét đưa họ vào tham gia tố tụng cho đầy đủ.

VKSND cấp cao tại Đà Nẵng thông báo để VKSND các địa phương trong khu vực cùng rút kinh nghiệm chung khi giải quyết các vụ án tương tự./.