THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 889/TB-VKSTC NGÀY 25/11/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN TỐI CAO RÚT KINH NGHIỆM KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO Ở NHỜ

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Thứ nhất: Thửa đất số A230 diện tích 628 m², tọa lạc tại thôn Bình An 1, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế có nguồn gốc của cố Nguyễn Thị Tâm (mẹ của cụ Lê Phiên) theo Bản trích lục địa bộ ngày 15/8/1936. Các đương sự đều xác nhận, cố Tâm chết (1957), cụ Phiên thừa hưởng, sử dụng diện tích đất nêu trên. Đối với cụ Phiên, chưa bao giờ từ bỏ quyền sử dụng thửa đất A230 do có Tâm (mẹ cụ Phiên) để lại cho cụ Phiên, được chứng minh sự việc ông Ngọc đề nghị cụ Phiên viết giấy cho đất, nhưng cụ Phiên không đồng ý và cụ Phiên có nhiều đơn khiếu nại yêu cầu ông Ngọc trả đất. Ngoài ra, cụ Phiên có Bản trích lục địa bộ thửa đất số A230 đứng tên cố Tâm, đây là loại giấy tờ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, do đó cụ Phiên có đủ điều kiện để đòi lại quyền sử dụng đất.

Cụ Phiên và bà Lê Thị Sim (đại diện những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Phiên) cho rằng: Năm 1982, cụ Phiên cho ông Huỳnh Trọng Ngọc mượn thửa đất A230 làm nhà ở, hai bên cam kết khi nào cụ Phiên lấy lại thì ông Ngọc sẽ trả, việc cho mượn không làm giấy tờ gì. Từ năm 1987 đến năm 2009 cụ Phiên viết nhiều đơn khiếu nại yêu cầu ông Ngọc trả đất, ông Ngọc không đồng ý trả lại đất, chính quyền xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc hòa giải không được. Năm 2004, Ủy ban nhân dân huyện Phú Lộc mở đường ven biển Cảnh Dường thu hồi 490,4m² đất một phần thừa A230, đền bù 17.654.000 đồng (ông Ngọc nhận số tiền này). Cụ Phiên chết năm 2012, bà Sim tiếp tục yêu cầu vợ chồng ông Ngọc phải tra lại diện tích còn lại của thửa đất A 230 là 113m² và số tiền đền bù 490,4m² đất là 17.654.000 đồng.

Thứ hai: Ông Ngọc thừa nhận thửa đất đang tranh chấp là của cụ Phiên, nhưng ông Ngọc cho rằng, cụ Phiên đã cho vợ chồng ông thửa đất này từ năm 1982, việc cho đất không làm giấy tờ. Khi nhà nước thu hồi 409,4m² đất để mở đường, ông Ngọc có nhận số tiền đền bù 17.654.000 đồng. Số đất còn lại ông Ngọc đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh Phạm Văn Hương 45m², vợ chồng ông Nguyễn Hữu Nghị 45m², còn lại 86 m² cho vợ chồng chị Huỳnh Thị Nhung là con gái Ngọc. Ông Ngọc khai trong quá trình sử dụng đất đã nhiều lần hỗ trợ cho cụ Phiên tiền và vàng, tổng cộng 3.000.000 đồng và 01 chỉ vàng, việc giao tiền vàng không viết giấy tờ biên nhận. Tuy nhiên ông Ngọc có nhiều lời khai không thống nhất về việc giao tiền, vàng cho cụ Phiên (có lúc khai giao 4.000.000 đồng, 1 chỉ vàng; có lúc khai giao 3.000.000 đồng, 1 chỉ vàng), mâu thuẫn về số lần giao (có lúc khai giao 2 lần; có lúc khai giao 3 lần), mâu thuẫn về thời điểm giao (đối với 1 chỉ vàng: Khai giao lần đầu tiên; có lúc khai giao năm 2000; có lúc khai giao năm 2001; có lúc khai giao năm 2004. Đối với tiền: Có lúc khai giao thời điểm năm 1998-1999; có lúc khai giao năm 1986; có lúc khai giao vào các năm 1984, 1987, 2001; có lúc khai giao vào năm 1984, 1987; có lúc khai giao vào năm 1984, 1987, 2000; có lúc khai giao vào các năm 1998, 2000).

Thứ ba: Trong quá trình sử dụng, ông Ngọc kê khai không trung thực về nguồn gốc đất, tại giấy kê khai nhà ở và đất ở ngày 02/01/1997, ông Ngọc kê khai đất là của ông bà để lại; tại tờ khai nguồn gốc đất thu hồi ngày 09/02/2004, ông Ngọc kê khai đất của cha có từ năm 1945 cho con Huỳnh Trọng Ngọc làm nhà năm 1983. Ông Ngọc không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc cụ Phiên tặng cho vợ chồng ông Ngọc thửa đất trên, ngoài giấy chuyển nhượng đất và nhà ở lập ngày 10/3/2002 giữa ông Ngọc và ông Lê Phước Hùng (con trai cụ Phiên); giấy chuyển nhượng lập ngày 10/3/2002 không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, đồng thời ông Hùng không phải là người có quyền quản lý, sử dụng hợp pháp thửa đất A 230 và cũng không được sự ủy quyền pháp lý của cụ Phiên trong việc định đoạt quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, do đó hợp đồng chuyển nhượng không có giá trị pháp lý. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 và Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, ông Ngọc không đủ điều kiện để được công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra tại biên bản xác minh ngày 02/10/2013, Ủy ban nhân dân xã Lộc Vĩnh xác định vợ chồng ông Ngọc không phải là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất tranh chấp nên việc vợ chồng ông Ngọc ký giấy chuyển nhượng đất cho các hộ đang sử dụng (ông Hương: Năm 2004, ông Tấn: Năm 2006) là trái pháp luật; mặt khác khi vợ chồng ông Ngọc chuyển nhượng đất đang có tranh chấp nên Ủy ban nhân dân xã không xác nhận việc chuyển nhượng đối với các hộ nêu trên.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xác minh, thu thập đơn khiếu nại của cụ Phiên, chỉ căn cứ một số lời khai của đương sự, để cho rằng ông Ngọc đưa tiền nhiều lần, được ông Hùng thừa nhận, ông Ngọc đã làm nhà trên đất nhưng cụ Phiên không phản đối, từ đó xác định cụ Phiên đã cho ông Ngọc đất là chưa đủ căn cứ, gây thiệt hại đến quyền lợi của nguyên đơn.

Từ vụ án trên, để nhận diện được các vi phạm tương tự nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự và thực hiện tốt Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ việc việc dân sự, hôn nhân và gia đình) thông báo để các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh biết cùng nghiên cứu rút kinh nghiệm chung./.