Thông báo rút kinh nghiệm số 23/TB-VKS-DS ngày 01/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 23/TB-VKS-DS NGÀY 01/3/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN, YÊU CẦU TUYÊN BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Ngày 13/9/2013 ông Dũng, bà Nhựt (nguyên đơn) với ông Quang (bị đơn) lập Hợp đồng ủy quyền có số công chứng 03069, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Đ. Ông Dũng, bà Nhựt cho rằng việc ký hợp đồng ủy quyền nhằm mục đích để Ông Bà vay của ông Quang số tiền 150.000.000 đồng; ông Quang xác nhận ông Dũng, bà Nhựt có vay tiền của Ông và việc ký Hợp đồng ủy quyền nhằm đảm bảo thu hồi nợ trong trường hợp ông Dũng, bà Nhựt vi phạm cam kết. Như vậy, các bên đều hoàn toàn tự nguyện khi ký hợp đồng ủy quyền như một biện pháp bảo đảm cho khoản nợ mà ông Dũng, bà Nhựt vay của ông Quang. Khi ký kết hợp đồng ủy quyền, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận hợp đồng ủy quyền không trái đạo đức, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Ngoài việc ký hợp đồng ủy quyền, các bên không có thỏa thuận khác liên quan đến việc ủy quyền, do vậy hợp đồng ủy quyền có hiệu lực pháp luật.
Điều 1 Hợp đồng ủy quyền, có nội dung: Bên A (ông Dũng, bà Nhựt) ủy quyền cho bên B (ông Quang) được quyền thay mặt và nhân danh bên A thực hiện các công việc cụ thể sau đây: Được toàn quyền quản lý, sử dụng thửa đất; ... được toàn quyền định đoạt quyền sử dụng đất nêu trên như mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp. Giá cả, điều kiện và hình thức định đoạt do bên B tự quyết định; được quyền thay mặt bên A ký kết các hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê quyền sử dụng đất nêu trên và ký kết hợp đồng hủy bỏ các loại hợp đồng này;
Trong phạm vi ủy quyền, ngày 03/3/2018 ông Quang chuyển nhượng thừa đất nêu trên cho ông Phan Văn Can với giá 100.000.000 đồng; việc ông Quang chuyển nhượng thửa đất cho ông Can đã được ông Dũng, bà Nhựt ủy quyền tại hợp đồng ủy quyền; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quang với ông Can được công chứng và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký biến động sang tên ông Phan Văn Can ngày 10/4/2018, do đó hợp đồng chuyển nhượng này được pháp luật bảo vệ.
Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng hợp đồng ủy quyền vô hiệu, nên ông Quang không có tư cách chủ thể để ký kết hợp đồng chuyển nhượng, từ đó căn cứ khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông Quang phải trả cho ông Dũng, bà Nhựt giá trị quyền quyền sử dụng đất tại thửa đất số 698/2, tờ bản đồ số 06, với số tiền 1.677.000.000 đồng là không có căn cứ và vượt quá phạm vi khởi kiện vì nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Hợp đồng ủy quyền lập ngày 13/9/2013, thời hạn ủy quyền 10 năm. Tuy nhiên, ngày 03/10/2019, ông Dũng gửi Thông báo đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền đối với ông Quang. Các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn đã nhận được Thông báo này. Xét thấy đây là hợp đồng ủy quyền không có thù lao, trong khi ông Dũng đã gửi Thông báo đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền cho ông Quang. Theo Điều 588 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2005 việc ông Dũng đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền là đúng quy định. Đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về nội dung này và tuyên bố chấm dứt hợp đồng ủy quyền mới đúng với khoản 3 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2005. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nội dung này; Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng lại tuyên bố hợp đồng ủy quyền vô hiệu là không có căn cứ.
Sau khi ông Quang (bị đơn) chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông Phan Văn Can, ông Can chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Hồng, bà Hồng tiếp tục chuyển nhượng cho ông Trương Văn Thanh, ông Trần Đình Bửu. Các giao dịch chuyển nhượng này đều tuân thủ các quy định của pháp luật. Do hợp đồng ủy quyền và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là hợp pháp, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 104873, do UBND huyện Đ cấp ngày 04/8/2022 cho ông Dũng, bà Nhựt là hoàn toàn có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án, đáng lẽ cần sửa án phúc thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố chấm dứt hợp đồng ủy quyền lập ngày 13/9/2013; tuy nhiên đến thời điểm hiện tại thì thời hạn ủy quyền 10 năm mà các bên thỏa thuận tại Điều 2 của hợp đồng ủy quyền đã hết (từ ngày 13/9/2013 đến ngày 13/9/2023) theo khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hợp đồng ủy quyền đã chấm dứt. Do đó, việc tuyên chấm dứt hợp đồng ủy quyền trong trường hợp này không còn cần thiết.
Trên đây là vi phạm của TAND tỉnh Q trong việc giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” bị cấp giám đốc thẩm hủy Bản án phúc thẩm và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến VKSND tỉnh, thành phố trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng khi kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tương tự.