MỤC LỤC

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 319/2024/HS-PT ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Lê Thanh V do có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của bị cáo Lê Thanh V và bị đơn dân sự

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 18/2024/HS-PT ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Phạm Văn Q do có kháng nghị của Viện kiểm sát

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 786/2023/HS-PT ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Ngô Quang T do có kháng cáo của bị cáo Ngô Quang T

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 390/2023/HS-PT ngày 27/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Dương Thị Kim L do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế A và bà Nguyễn Mai L

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 67/2023/HS-PT ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Hồ Thị C do có kháng cáo của bị cáo Hồ Thị C

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 320/2023/HS-PT ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Hà Thị Y và Phạm Thị Th do có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của các bị cáo Hà Thị Y và Phạm Thị Th

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 154/2025/HS-PT ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Hồ Ánh N và Trần Thị Hoài Q do có kháng cáo của các bị cáo Hồ Ánh N và Trần Thị Hoài Q

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 46/2025/HS-PT ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Nguyễn Thị Diệu L và Hoàng Thị T do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Diệu L và Hoàng Thị T

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 54/2025/HS-PT ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Trốn thuế” và tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” đối với bị cáo Tô Đức D do có kháng cáo của bị cáo Tô Đức D

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 24/2025/HS-PT ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Nguyễn Thị Bạch T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 319/2024/HS-PT ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Lê Thanh V do có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của bị cáo Lê Thanh V và bị đơn dân sự

Nội dung hủy án:

(i) Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số: 436/KLĐT-KT ngày 18/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an thành phố B, Cáo trạng số: 209/CT-VKSBH ngày  12/4/2023 của Viện kiểm sát  nhân dân thành phố Biên Hòa và Bản án hình sự sơ thẩm số: 601/2023/HS-ST ngày 08-11-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tất cả đều căn cứ vào Bản kết luận giám định tư pháp số: 3545/KL-CT ngày 27/5/2019 của Cục Thuế tỉnh Đ; tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có kết luận này.

(ii) Các tài liệu liên quan đến pháp nhân Công ty Đ (giấy chứng nhận đăng ký, điều lệ), cấp sơ thẩm có thu thập nhưng chưa đầy đủ (thiếu các trang quan trọng trong điều lệ). Tòa án cấp phúc thẩm đã yêu cầu doanh nghiệp cung cấp theo Văn bản số: 800/TA-HSPT ngày 24/5/2024, nhưng không thu thập được.

(iii) Tại Công văn số: 20065/CCTKV-KTNB ngày 16/9/2022 của Chi cục Thuế khu vực B (bút lục số 384), thể hiện có 02 giấy nộp tiền của Công ty Đ vào ngân sách Nhà nước; tuy nhiên, hồ sơ không có 02 tài liệu này.

(iv) Tại Công văn số: 20065/CCTKV-KTNB ngày 16/9/2022 của Chi cục Thuế khu vực B (bút lục số 384 nêu trên), thể hiện số tiền thuế phát sinh sau khi điều chỉnh Công ty Đ đã nộp đầy đủ vào ngân sách Nhà nước vào các ngày 27/11/2019 và 29/11/2019, số tiền là 237.057.730 đồng; tuy nhiên, không có các tài liệu nộp tiền kèm theo, chưa được điều tra làm rõ nhưng kết luận điều tra, cáo trạng và bản án sơ thẩm đều yêu cầu Công ty Đ phải nộp lại số tiền này là chưa có căn cứ.

(v) Cấp sơ thẩm không đưa vào tham gia tố tụng đối với các đơn vị chủ đầu tư ký kết hợp đồng với Công ty Đ hoặc có liên quan đến công trình mà cấp sơ thẩm xác định Công ty Đ trốn thuế là không phù hợp.

(vi) Bản án sơ thẩm tuyên bị đơn dân sự nộp tiền nhưng không buộc nộp án phí, không tuyên trách nhiệm khi chậm nộp, làm thất thu ngân sách Nhà nước và vi phạm điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

(vii) Bản án sơ thẩm tuyên xử phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Lê Thanh V, nhưng Hội đồng xét xử lại ban hành Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1205/2023/QĐCĐKNCT ngày 08-11-2023, thể hiện: “kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù” là sai, vi phạm khoản 4 Điều 123, điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 18/2024/HS-PT ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Phạm Văn Q do có kháng nghị của Viện kiểm sát

Nội dung hủy án 

Doanh thu của Phạm Văn Q có được trong vụ án Trốn thuế một phần là do hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả (Mua gas về san chiết vào các bình loại 12 kg, 45 kg bán lại cho các đại lý, kèm theo niêm màng co giả + tem giả của các hãng gas khác trên thị trường để các đại lý tự dán và bán gas ra ngoài thị trường). Đây là doanh thu có được từ hoạt động kinh doanh không hợp pháp, không theo quy định của pháp luật nên không thể tính là doanh thu để nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Một phần khác trong doanh thu của Phạm Văn Q trong vụ án Trốn thuế là kinh doanh gas và vỏ bình ga không được xác định là hàng giả trong vụ án hình sự đã xử lý. Cần xác định rõ phần doanh thu này là bao nhiêu, có hợp pháp hay không, có phải đối tượng chịu thuế hay không để làm căn cứ giải quyết vụ án. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ nội dung này là thuộc trường hợp điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 786/2023/HS-PT ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Ngô Quang T do có kháng cáo của bị cáo Ngô Quang T

Nội dung hủy án 

(i) Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Quang T kêu oan cho rằng Ngô Quang T nhận tiền qua tài khoản do Ngô Quang T xin tạm ứng để mua vật tư và cũng có khoản tiền do Công ty M thanh toán tiền lắp ghép mái che, xây nhà tắm, xây nhà làm việc không có trong danh mục xây dựng của 05 hợp đồng xây dựng.

(ii) Trong hồ sơ vụ án thể hiện bản sao kê của ngân hàng xác định có 21 lần do cá nhân Võ Thị Thanh M, Nguyễn Thái L2, Võ Văn Trần Q, Nguyễn Thái L3, Trần Hữu S chuyển tiền vào tài khoản của Ngô Quang T, nhưng không xác xác định nội dung chuyển tiền là do Công ty M chuyển tiền để thanh toán phần việc thi công công trình của 05 hợp đồng gồm: Hợp đồng số 01/12/2017/HĐ-XD ngày 28/12/2017; Hợp đồng số 01/06/2018/HĐ-XD ngày 12/6/2018; Hợp đồng số 01/09/2018/HĐ-XD ngày 17/9/2018; Hợp đồng số 01/10/2018/HĐ-XD ngày 08/10/2018; Hợp đồng số 04/12/2018/HĐ-XD ngày 30/12/2018 đã ký kết.

(iii) Như vậy theo cấp sơ thẩm xác định Ngô Quang T có 21 lần nhận tiền của Công ty M thanh toán phần việc thi công công trình của 5 hợp đồng xây dựng đã ký kết. Nhưng qua đối chiếu 05 hồ sơ quyết toán của Công ty cổ phần T Vũng Tàu thì Ngô Quang T chỉ có nhận 20 lần tiền tạm ứng, trong đó có 10 lần tạm ứng không ghi ngày tháng năm (Hợp đồng số 01/12/2017/HĐ-XD ngày 28/12/2017). Còn lại 10 lần tạm ứng tiền thì chỉ có 02 lần tạm ứng tiền trong hồ sơ quyết toán hợp đồng trùng khớp về ngày và số tiền được chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T; 03 lần tạm ứng tiền trong hồ sơ quyết toán trùng về ngày nhưng không trùng khớp số tiền được chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T và 05 lần tạm ứng tiền trong hồ sơ quyết toán không có trong dánh sách chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T. Do đó cần điều tra làm rõ các khoản tiền được chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T có phải là khoản tiền do Ngô Quang T đã được tạm ứng và được dưa vào hồ sơ quyết toán để thanh toán phần việc thi công theo hạng mục công trình của 5 hợp đồng xây dựng đã ký kết giữa công ty cổ phần T Vũng Tàu và Công ty M hay không mới có cơ sở xác định Ngô Quang T nhận tiền từ công ty M thanh toán phần công việc thi công theo 05 hợp đồng xây dựng đã ký kết nhưng không xuất hóa đơn và kê khai thuế giá trị gia tăng gây thiệt hại về tiền thuế.

(iv) Tuy nhiên, qua quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định lại số tiền do Ngô Quang T đã nhận tiền để thi công trình có sự thay đổi, phát sinh tăng thành số tiền 28.077.192.567 đồng. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có Văn bản số 3933/CSKT ngày 17/12/2020 yêu cầu Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định lại Ngô Quang T giám đốc Công ty cổ phần T Vũng Tàu không thực hiện kê khai thuế số tiền 28.077.192.567 đồng, gây thiệt hại về thuế bao nhiêu?

(v) Theo khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp quy định: “Việc giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án, vụ việc đã được kết luận giám định trước đó. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu”. Do có sự thay đổi phát sinh tăng số tiền do Ngô Quang T đã nhận, liên quan đến việc xác định thiệt hại về thuế nên phải thực hiện giám định bổ sung. Tuy nhiên, ngày 30/12//2020 Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Văn bản số 11938/CT-TTKT3 xác định giá trị thiệt hại về thuế là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp.

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 390/2023/HS-PT ngày 27/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Dương Thị Kim L do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế A và bà Nguyễn Mai L

Nội dung hủy án 

Lẽ ra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền là Cục thuế tỉnh Phú Thọ giám định, kết luận về số thuế bị cáo Dương Thị Kim L đã trốn mới đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa sơ thẩm đã rút một phần truy tố và Hội đồng xét xử sơ thẩm tự tính giảm trừ thuế cho bị cáo Dương Thị Kim L là không đúng thẩm quyền và vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Mặt khác cần phải xem xét lại các khoảng thời gian mà bị cáo được khấu trừ thuế do điều kiện khách quan HKD Dương Thị Kim L không kinh doanh được như dịch Covid 19, làm đường... cũng như xem xét chiếc ô tô tải BKS 19C-106.29 dùng để vận chuyển dăm mảnh từ xưởng sản xuất của HKD Dương Thị Kim L đi bán cho ai, vào thời điểm nào để từ đó xác định chính xác số lượng hàng hóa mua bán cũng như số tiền Dương Thị Kim L trốn thuế. Do vậy, để đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, Hội đồng xét xử thấy cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị Kim L và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thế A, bà Nguyễn Mai L cũng như đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 67/2023/HS-PT ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Hồ Thị C do có kháng cáo của bị cáo Hồ Thị C

Nội dung hủy án 

(i) Quá trình điều tra đã xác định hành vì vi phạm về thuế của D cụ thể là hành vi bán hàng không xuất hóa đơn và hành vị bán hàng không đúng giả giao dịch trên thị trường làm giảm số thuê phải nộp, cụ thể đoàn kiểm tra liên ngành đã lấy giá trị hàng tồn kho trên sổ sách kế toán của D (44.636.991.559 đồng), trừ đi giá trị hàng tồn kho thực tế (theo kiểm kê của đoàn kiểm tra liên ngành là 509.308.894 đồng), cho ra giá trị chênh lệch là 44.127.682.665 đồng). Như vậy, D đã bán hàng không xuất hóa đơn 44.127.682.665 đồng. Sau khi trừ đi số tiền 5.219.340.342 đồng (gồm 511.312.889 đồng đối với sim điện thoại với mức tỷ lệ chiết khấu tối đa 35% tính trên mệnh giá sim và 4.708.027.453 đối với thẻ cào điện thoại với mức tỷ lệ chiết khấu tối đa 10% tính trên mệnh giá thẻ cào). Do đó, số tiền thuê giá trị gia tăng mà D phải nộp là 3.938.348.014 đồng. Tuy nhiên, cơ quan điều tra cấp sơ thẩm chưa làm rõ được số lượng hàng hóa và giá trị hàng mà bị cáo Hồ Thị C đã bán thực tế là bao nhiêu? Căn cứ vào lời khai của những người làm chứng đã từng mua hàng của D thì chỉ có vài trường hợp mua hàng của D cũng không đủ cơ sở để chứng minh hành vi bán hàng không xuất hóa đơn với giá trị 44.127.682.665 đồng. Trong khi đó tại phiên tòa bị cáo khai số lượng hàng hóa sim card điện thoại bị thất thoát, hư hỏng rất nhiều và hết thời hạn sử dụng.

(ii) Về thành phần tổ giám định tư pháp: Tại quyết định số 741/QĐ-CT  ngày 14/5/2019 về việc cử giám định viên tư pháp thì trong thành phần tổ giám định viên tư pháp về thuế được cử chỉ có ông Trần Văn K và ông Trần Tấn B là giám định viên tư pháp, còn ông Nguyễn Hoàng T2 không phải là giám định viên tư pháp hay là giám định tư pháp theo vụ việc (được UBND tỉnh công bố danh sách). Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Quốc Hội: Giám định tư pháp bao gồm giám định viên tư pháp và người giám định tư pháp theo vụ việc được cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với người giám định tư pháp tại địa phương) lập, công bố danh sách theo quy định; đồng thời về điều kiện bổ nhiệm làm giám định viên hoặc lựa chọn làm người giám định theo vụ việc thì phải có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.

Như vậy, thành phần tổ giám định tư pháp không đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 20 của Luật giám định tư pháp.

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 320/2023/HS-PT ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Hà Thị Y và Phạm Thị Th do có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của các bị cáo Hà Thị Y và Phạm Thị Th

Nội dung hủy án 

(i) Tuy nhiên, tại các kết luận giám định về thuế ngày 14/12/2020 và ngày 25/5/2021, các giám định viên của Cục thuế tỉnh B mới chỉ thể hiện quan điểm rằng: Trường hợp xác định được Công ty K đã hạch toán khoản chi trả tiền lương, tiền công cho người lao động vào chi phí giá vốn trong kỳ tính thuế nhưng thực tế không có việc chi trả dẫn đến xác định sai số tiền thuế phải nộp thì được coi là hành vi trốn thuế. Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội "Trốn thuế", các kết luận giám định phải xác định rõ các bị cáo có giúp Công ty K trốn thuế không (không có nội dung giả định); trốn loại thuế gì, trốn một lần hay trốn nhiều lần và thời điểm của từng lần trốn; trên cơ sở đó, các cơ quan tiến hành tố tụng mới có cơ sở xác định được số tiền trốn thuế (nếu có), quyết định việc có cộng dồn các lần trốn thuế lại với nhau để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo không.

(ii) Bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm mở ngày 14/3/2023, các bị cáo Hà Thị Y, Phạm Thị Th đã giao nộp các tài liệu bổ sung gồm: Sổ TK 334 (sổ lương); Sổ TK 154.2 (sổ chi phí nhân công, sản xuất kinh doanh dở dang); Sổ TK 632 (sổ giá vốn hàng bán); Báo cáo tài chính năm 2016; Các biên bản của Cục Thuế tỉnh B đã kiểm tra năm 2016; Chứng minh thư (bản phô tô) của những người lao động cung cấp khi đi làm; Bảng phân tích so sánh chi phí nhân công của cơ quan Bộ Quốc phòng; Hóa đơn đầu ra TK 511 của 4 công trình (phô tô). Sau phiên tòa mở ngày 14/3/2023, bị cáo Hà Thị Y tiếp tục giao nộp một số tài liệu: Bản giải trình về số liệu thuế do bị cáo làm ngày 20/3/2023; Văn bản 828/CCTKV-NV ngày 15/6/2022 của Chi Cục thuế khu vực M; Biên bản quyết toán công trình; Bảng kê thuế đầu ra (kê doanh thu 6 công trình). Theo các tài liệu này và trình bày của các bị cáo thì trong số 59 trường hợp Cơ quan điều tra xác định là các bị cáo đã lập chứng từ nhưng không chi trả lương, có 29 trường hợp Công ty đã không hạch toán vào chi phí tính thuế năm 2016, với số tiền là 717.048.000 đồng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các tài liệu do các bị cáo xuất trình, cần được xác minh và có ý kiến chính thức của Cục Thuế tỉnh B để xác định tính hợp pháp của các tài liệu; từ đó, kết hợp các tài liệu này với các tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được, trưng cầu ý kiến của cơ quan chuyên môn để xác định có hay không có việc trốn thuế, số tiền trốn thuế (nếu có), thời điểm trốn, trốn một lần hay nhiều lần. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Vy K1 là Giám định viên tư pháp đã tham gia việc giám định về thuế theo quyết định trưng cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn trình bày, những tài liệu mà các bị cáo mới giao nộp hông có trình tài liệu giám định nên ông không thể khẳng định các tài liệu này có hợp pháp hay không và có được sử dụng để giảm trừ vào số tiền mà cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Kạn đã xác định Công ty K trốn thuế hay không. Như vậy, để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hà Thị Y và Phạm Thị Th là có căn cứ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra bổ sung, làm rõ các vấn đề nêu trên.

(iii) Về xác định người tham gia tố tụng, tại Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị bổ sung Cục thuế tỉnh B tham gia tố tụng với tư cách bị hại; sửa đổi tư cách tham gia tố tụng của 59 cá nhân không làm việc cho Công ty cổ phần K nhưng bị sử dụng tên tuổi để kê khai có hưởng lương là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (không phải là người làm chứng); bị cáo Hà Thị Y kháng cáo cho rằng việc xác định tư cách của những người tham gia tố tụng chưa bảo đảm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vấn đề ngày, Hội đông xét xử phúc thẩm xét thấy khoản thuế mà Công ty K phải truy nộp không phải thiệt hại của Cục thuế tỉnh B mà là nghĩa vụ của Công ty K phải thực hiện với Ngân sách Nhà nước. Cục thuế tỉnh B là đơn vị trực tiếp quản lý, thu thuế của Cộng ty K, có trách nhiệm trong việc thu hồi khoản tiền này. Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần đưa Cục thuế tỉnh B vào tham gia tố tụng; tuy nhiên, xác định Cục thuế tỉnh B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(iv) Bên cạnh đó, Công ty K là Công ty cổ phần, có 3 cổ đông sáng lập, hiện vẫn đang hoạt động; khoản tiền trốn thuế được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định là khoản thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty K. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty K tham gia tố tụng để buộc Công ty K phải nộp khoản thuế này là sai sót. Khi giải quyết lại vụ án, cần đưa Công ty K vào tham gia tố tụng và buộc Công ty K phải truy nộp khoản tiền trốn thuế (nếu có).

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 154/2025/HS-PT ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Hồ Ánh N và Trần Thị Hoài Q do có kháng cáo của các bị cáo Hồ Ánh N và Trần Thị Hoài Q

Nội dung sửa án 

(i) Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo N đã tự nguyện nộp 100.000.000đ tiền truy thu; 20.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ án phí HSST; bị cáo Q đã tự nguyện nộp 10.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ án phí HSST, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS nên cần áp dụng Điều 54 của BLHS giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt, sớm trở về làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N khai nhận bị cáo là chủ doanh nghiệp, bị cáo Q phạm tội do  phải  thực  hiện  theo  sự chỉ đạo  của  bị cáo, như vậy  vai trò của bị cáo Q là phụ thuộc, vai trò không đáng kể. Vì vậy, mức giảm của bị cáo Q cao hơn bị cáo N là phù hợp.

(ii) Tại cấp phúc thẩm bị cáo N đã tự nguyện nộp 100.000.000đ tiền truy thu; 20.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ án phí HSST; bị cáo Q đã tự nguyện nộp 10.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ án phí HSST nên cần ghi nhận.

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 46/2025/HS-PT ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Nguyễn Thị Diệu L và Hoàng Thị T do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Diệu L và Hoàng Thị T

Nội dung sửa án 

(i) Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo L xuất trình biên lai bị cáo tiếp tục nộp 280.000.000 đồng để khắc phục hậu quả và 5.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chỉnh quyền địa phương xác nhân, có bố chồng là ông Lê Quang L3 được Chủ tịch nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tặng Huân chương chiến thắng hạng nhất. Bị cáo T xuất trình biên lai bị cáo đã nộp 2.200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt bổ sung, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, có bác ruột và bác chồng là liệt sỹ, bố chồng được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới các bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

(ii) Về kháng cáo xin hưởng án treo: Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Thị Diệu L, Hoàng Thị T có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết giảm nhẹ mới, các bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 54/2025/HS-PT ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Trốn thuế” và tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” đối với bị cáo Tô Đức D do có kháng cáo của bị cáo Tô Đức D

Nội dung sửa án 

(i) Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Đã nộp hết toàn bộ số tiền thu lợi bất chính còn lại là 376.507.153đ (ba trăm bảy sáu triệu, năm trăm lẻ bảy nghìn, một trăm năm ba đồng) tại Biên lai thu tiền số 0002498 ngày 28/4/2025 và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm) tại Biên lai thu tiền số 0002432 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên HĐXX cần áp dụng khi xem xét nội dung kháng cáo và hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

(ii) Về áp dụng hình phạt chính: Nhận thấy bản thân bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT nhằm để trốn thuế, nhưng đã nhận thức được lỗi lầm, ăn năn hối cải, chủ động giao nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế. Bị cáo và công ty của mình có nhiều đóng góp cho Nhà nước và xã hội, luôn đi đầu vận động, tuyên truyền, tham gia đóng góp Quỹ phòng chống dịch covid-19, xây dựng nhà tình nghĩa, Quỹ người nghèo, ủng hộ khắc phục thiên tai, bão lụt. Có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội, xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. HĐXX căn cứ nguyên nhân, mức độ, hành vi phạm tội, tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 của BLHS như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 24/2025/HS-PT ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Nguyễn Thị Bạch T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T

Nội dung sửa án 

(i) Tuy nhiên, sau khi biết có hành vi trốn thuế, vợ chồng bị cáo M, T đã tự nguyện nộp lại số tiền thuế đã trốn là 120.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 BLHS. Ngoài ra, khách thể của tội danh này thuộc lĩnh vực kinh tế nên áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, HĐXX có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, sửa Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

(ii) Mặc khác, để thực hiện hành vi trốn thuế, cả ba bị cáo đều thống nhất, tự nguyện ký hợp đồng chuyển nhượng ghi giá 6.500.000.000 đồng. Vợ chồng bị cáo M, T có nghĩa vụ chịu thuế thu nhập cá nhân nhưng bị cáo L là người trực tiếp chịu trách nhiệm di kê khai thuế với cơ quan nhà nước, nộp thay tiền thuế thu nhập cá nhân của bị cáo M, T. Như vậy, cả ba bị cáo đều là đồng phạm trong vụ án, vai trò của ba bị cáo là ngang nhau nên Bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo M 150.000.000 đồng và bị cáo L 120.000.000 đồng là chưa phù hợp tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án. Vì vậy, mặc dù, bị cáo M không yêu cầu kháng cáo nhưng HĐXX phúc thầm xét thấy cần thiết phải điều chỉnh mức hình phạt đối với bị cáo M và không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên điều chỉnh giảm mức phạt tiền từ 150.000.000 đồng xuống 120.000.000 đồng theo quy định tại Điều 345 BLTTHS.