MỤC LỤC

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2024/DS-PT ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc tranh chấp đất rừng

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2024/DS-PT ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 308/2023/DS-PT ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 53/2022/DS-PT ngày 02/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc tranh chấp chia thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 46/2022/DS-PT ngày 10/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2019/DS-PT ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 96/2023/DS-PT ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chia tài sản thuộc quyền sử dụng chung, đòi lại tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 853/2019/DS-PT ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà vô hiệu

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 1011/2019/DS-PT ngày 11/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà

 

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2024/DS-PT ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc tranh chấp đất rừng

Nội dung hủy án:

Đối với nội dung “Toà án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án không đúng thẩm quyền”:

HĐXX xét thấy: Theo hướng dẫn tại mục 1 Phần I của Văn bản giải đáp số: 02/GĐ-TANDTC, ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp nghiệp vụ thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính cá biệt.

Khoản 1, khoản 2 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: "1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.

2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó".

Khoản 4, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: "Thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh".

Khoản 4, Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính quy định: Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.

Tại phần II Văn bản giải đáp nghiệp vụ số: 02/2016/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao cũng nêu rõ: “Khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức thì Tòa án phải xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của quyết định cá biệt đó […].

Trường hợp việc xem xét hủy quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phải chuyển vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem xét hủy quyết định đó”.

Trong vụ án này, mặc dù các đương sự không yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm nhận thấy việc Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Bàn Phụ S - bà Bàn Mùi C1 và hộ ông Lý Tiến P1 không đúng diện tích, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, thuộc trường hợp phải thu hồi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 và cần phải hủy để cấp lại nhưng không chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng để giải quyết mà vẫn xét xử, sau đó tuyên xử "Bị đơn bà Bàn Mùi C1 được tiếp tục quản lý, sử dụng 8.418,5m2 đất tại các thửa 53, 59 tờ bản đồ số 01 và thửa 261 tờ bản đồ số 20; Bà C1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại diện tích đất đã được cấp tại thửa 53 …" là không đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng là có căn cứ để chấp nhận, cần phải hủy Bản án Dân sự số 13/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cao Bằng để Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2024/DS-PT ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

Nội dung hủy án:

Thứ tư, về thẩm quyền giải quyết vụ án. Do những thiếu sót trong việc xác định sai tư cách tham gia tố tụng, không thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ, áp dụng sai quy định pháp luật dẫn đến việc xem xét giải quyết vụ án không được thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Tại biên bản xác minh ngày 08/01/2023 tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện T, tỉnh Cao Bằng, bà Triệu Thị Lan A viên chức địa chính cho biết qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ, kho lưu trữ không có bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông Lê Văn C. Tại Công văn số 50/UBND-TNMT ngày 10/01/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Lê Văn C được kê khai tại trang số 3 sổ địa chính năm 2002 đúng chủ, đúng tên người sử dụng, đảm bảo theo quy định. Tuy nhiên, qua xem xét vụ án thấy rằng, việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Lê Văn C không đúng đối tượng sử dụng đất theo quy định tại Điều 176 BLDS năm 1995, thuộc trường hợp phải thu hồi để huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013, do đó việc xem xét huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện T mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 308/2023/DS-PT ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

Nội dung hủy án 

Theo quy định tại khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự thì khi giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét hủy quyết định cá biệt thì thẩm quyền giải quyết được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính. Việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trái quy định trong vụ án dân sự không phải là tranh chấp về dân sự nên không bắt buộc phải có đơn yêu cầu của đương sự.

Phần II Giải đáp 02/GĐ-TANDTC ngày 19 tháng 9 năm 2016 hướng dẫn như sau: Khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức thì Tòa án phải xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của quyết định cá biệt đó. Trường hợp việc xem xét hủy quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phải chuyển vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.

Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm phát hiện có việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định nhưng không chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết mà đưa ra xét xử là vi phạm về thẩm quyền.

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 53/2022/DS-PT ngày 02/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc tranh chấp chia thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nội dung hủy án 

Theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại mục 7, phần IV của Văn bản số 02/TANDTC-PC, ngày 02 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tối cao ban hành giải đáp một số vướng mắc trong xét xử, quy định: “Trường hợp đương sự yêu cầu chia di sản thừa kế đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; căn cứ Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh”.

Ngày 25/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử và ban hành Bản án số 16/2022/DS-ST giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về chia di sản thừa kế theo pháp luật. Đối với yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số BN 576635 ngày 14/5/2013 do UBND huyện Hậu Lộc cấp cho hộ ông Nguyễn Xuân B1 tại thửa đất số 785, tờ bản đồ số 12, diện tích 210m2 đất, địa chỉ thôn P, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa thì nhận định việc cấp Giấy CNQSDĐ là không có cơ sở, chưa đảm bảo chặt chẽ về trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật về đất đai. Nhận định như vậy là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Xuân B1; hủy toàn bộ Bản án số 16/2022/DS-ST ngày 25/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ.

Đối với nội dung kháng cáo của ông B1 yêu cầu xem xét việc cấp Giấy CNQSDĐ số BN 576635 ngày 14/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Xuân B1 tại thửa đất số 785, tờ bản đồ số 12, diện tích 210m2 đất và Hủy kết quả định giá tài sản tại cấp sơ thẩm sẽ được xem xét sau khi thụ lý lại vụ án và giải quyết.

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 46/2022/DS-PT ngày 10/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác

Nội dung sửa án:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Ngọc Tố Q khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận giữa bà và bà T đã ký ngày 28-02-2018; yêu cầu bà T trả lại số tiền 120.000.000đồng và bồi thường tiền thuê nhà 01 tháng (từ ngày 08-3-2018 đến ngày 08-4-2018) là 14.000.000đồng, tiền đặt cọc thuê nhà bị mất là 42.000.000đồng, tiền lắp đặt hệ thống điện là 4.800.000đồng, chi phí lắp đặt internet tại cửa hàng là 1.200.000đồng. Tổng cộng 182.000.000đồng. Còn bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã cung cấp địa chỉ mới tại: D2, đường 5B Him Lam, phường Tân Hưng, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện L. Xét nội dung đơn khởi kiện nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ của bị đơn tại: số 167 Lý Thường Kiệt, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ và đúng địa chỉ các bên thoả thuận đã ký trong hợp đồng hợp tác nói trên, còn việc sau khi Toà án thụ lý vụ án bị đơn cung cấp địa chỉ mới chỉ làm thay đổi về thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng không làm thay đổi về thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó lời trình bày của luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng hợp tác”  và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện L là có căn cứ.

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2019/DS-PT ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nội dung sửa án:

Đối với các kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang cho rằng ông Bùi Như T và cha, mẹ ông T là ông Bùi Như Y và bà Nguyễn Thị T1 đều là người mang hai quốc tịch Việt Nam và Thụy Điển. Ông T định cư tại Thụy Điển từ năm 1987 đến nay, sau đó năm 1994 thì bảo lãnh ông Y và bà T1 đến cư trú và qua đời tại Thụy Điển, năm 2015 ông T về nước, mỗi lần về nước được cấp tạm trú 06 tháng. Mặt khác, nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Y và bà T1 tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, đến khi ông Y và bà T1 qua đời tại Thụy Điển thì phần di sản trên vẫn chưa đươc phân chia. Căn cứ Điều 663 của Bộ luật dân sự năm 2015, điểm b khoản 7 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐPT ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với kháng nghị này, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ông Bùi Như T là người mang hai quốc tịch Việt Nam và Thụy Điển. Tuy nhiên, tại thời điểm tranh chấp khởi kiện ra Tòa án và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông T đều có mặt tại Việt Nam và tự mình tham gia tố tụng, ông T cũng là người có quốc tịch Việt Nam. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự chỉ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện khi có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trong trường hợp này, đương sự và tài sản tranh chấp đều ở trên lãnh thổ Việt Nam, không cần phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Đồng thời căn cứ Điều 4 và khoản 2 Điều 13 của Luật quốc tịch Việt Nam 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì ông Bùi Như T vẫn là công dân Việt Nam (bút lục 26). Do đó Hội đồng xét xử xác định vụ án không có yếu tố nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 663 của Bộ luật dân sự 2015 nên Tòa án nhân dân huyện C1 thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

- Đối với việc Viện Kiểm sát nhân nhân dân tỉnh Hậu Giang cho rằng cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai, lẽ ra phải thụ lý tranh chấp chia di sản thừa kế. Đối với kháng nghị này Hội đồng xét xử xét thấy, lẽ ra cấp sơ thẩm phải hướng dẫn đương sự tranh chấp thừa kế thì mới giải quyết triệt để vụ án, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, ông T cũng như bà L bà C đều không yêu cầu chia thừa kế (bút lục 271D, E) kiên quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thì tòa án phải thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của đương sự là có căn cứ.

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Nội dung nhận định của Tòa án 

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cho rằng các đương sự đều cư trú tại quận T, thành phố Hà Nội. Giữa nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai giải quyết, nên vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội là nơi bị đơn cư trú theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy, mặc dù các đương sự tham gia giao kết hợp đồng đều cư trú tại quận T, thành phố Hà Nội, nhưng số tiền đặt cọc nhằm để thực hiện hợp đồng tại thị xã S, tỉnh Lào Cai. Nhà và đất trên là tài sản do Chi cục thi hành án dân sự thị xã S mở đấu giá, ông Nguyễn Thế H và bà Nguyễn Quỳnh H trúng đấu giá và cam kết chuyển nhượng toàn bộ nhà và đất đã trúng đấu giá cho vợ chồng ông Mậu Xuân C nhưng do ông Nguyễn Thế H và bà Nguyễn Quỳnh H không thực hiện đúng thỏa thuận, nên nguyên đơn lựa chọn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai giải quyết là phù hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 96/2023/DS-PT ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chia tài sản thuộc quyền sử dụng chung, đòi lại tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng

Nội dung hủy án:

Về thủ tục tố tụng: Các đồng bị đơn (Thông qua người đại diện theo ủy quyền tại phiên tòa) cho rằng ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P chủ yếu đang cư trú tại Số 02A, Nguyễn Sỹ Sách, phường 15, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, đơn khởi kiện và yêu cầu của bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Viết Đ trong hợp đồng vay tài sản (Số tiền 5.500.000.000 đồng) không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh, các đồng bị đơn yêu cầu đình chỉ việc giải quyết vụ án trả lại đơn cho bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Viết Đ để họ thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh theo thủ tục tố tụng dân sự là không phù hợp. Như đã nhận dịnh tại mục thẩm quyền giải quyết của Tòa án ở trên, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P có nhiều nơi cư trú khác nhau (Thôn 9, xã O, huyện M, tỉnh Bình Phước; Tổ 01, ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Phước; Số A, đường N, phường 15, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh). Tại bản tự khai đề ngày 02 tháng 6 năm 2020, các đồng bị đơn là ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P xác định nơi cư trú của các đồng bị đơn là Tổ 01, ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Phước, các đồng nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước là phù hợp với quy định tại điểm h khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, yêu cầu này của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P không được chấp nhận.

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 853/2019/DS-PT ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà vô hiệu

Nội dung nhận định của Tòa án 

Về thẩm quyền giải quyết:

Tại Đơn tường trình ngày 26/01/2019, bị đơn ông Nguyễn Ái Ph trình bày: Trước đây ông sinh sống tại địa chỉ số 28/5/4A đường Văn Chung, Phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến tháng 8/2008 ông bán nhà chuyển về số 210 đường 19/5B, phường Th, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và có đăng ký hộ khẩu tại đây. Năm 2010 cả gia đình Ông Ph sang Mỹ định cư. Do đó, Tòa án nhân dân quận T thụ lý, giải quyết vụ án là không đúng thẩm quyền.

Ông Trần Viết H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Tr trình bày: Bà Tr chỉ biết địa chỉ của Ông Ph là tại số 28/5/4A đường Văn Chung, Phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, còn địa chỉ số 210 đường 19/5B, phường Th, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bà Tr chỉ nghe nói khi đi tìm Ông Ph. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh ngày 04/8/2017 của Công an phường Th, quận P thì Ông Ph không thường trú hoặc tạm trú tại địa chỉ số 210 đường 19/5B, phường Th, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, bà Tr không đồng ý với ý kiến của Ông Ph là vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T.

Xét, căn cứ Hợp đồng mua bán nhà giữa bà Lê Thị Tr và ông Nguyễn Ái Ph, số 025357/HĐ-MBN, quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/6/2008 lập tại Phòng công chứng D, Thành phố Hồ Chí Minh thì địa chỉ của Ông Ph được ghi là: “28/5/4A đường Văn Chung, Phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Theo kết quả trả lời xác minh ngày 13/11/2017 của Công an Phường 13, quận T thì ông Nguyễn Ái Ph không còn sinh sống tại địa phương từ năm 2000, bán nhà đi đâu không rõ.

Theo quy định tại Điều 40 của Bộ luật Dân sự thì: Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống hoặc nơi người đó đang sinh sống. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, sau khi ký hợp đồng mua bán nhà, gia đình bà Tr vẫn cư trú, sinh hoạt bình thường tại địa chỉ số 35/8 Khu phố C, đường Ph, phường Tân Th, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà mà các bên đã ký là chưa được thực hiện xong. Đối chiếu với quy định nêu trên của pháp luật thì khi thay đổi địa chỉ Ông Ph phải có nghĩa vụ thông báo cho bà Tr, ông Từ nhưng bà Tr xác định không có thông tin gì về việc Ông Ph thay đổi địa chỉ. Ông Ph cũng không chứng minh được là có thông báo địa chỉ mới cho bà Tr.

Trong vụ án này, khi khởi kiện bà Tr đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của Ông Ph được ghi trong hợp đồng mua bán nhà. Mặc dù, tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của Ông Ph cung cấp được bằng chứng là Ông Ph đã chuyển qua địa chỉ mới tại số 210 đường 19/5B, phường Th, quận P và sau đó sống tại địa chỉ 6542 Crista Palma Dr Huntington Beach, CA 92647, USA (Hoa Kỳ) nhưng Ông Ph không thông báo cho bà Tr, còn theo kết quả của Công an phường Th, quận P trả lời xác minh cho Tòa án thì Ông Ph không thường trú, tạm trú tại địa chỉ này và Công an Phường 13, quận T thì cho biết Ông Ph bán nhà đi đâu không rõ. Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì trường hợp này được xem là Ông Ph đã cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án nhân dân quận T thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 1011/2019/DS-PT ngày 11/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà

Nội dung nhận định của Tòa án:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm: Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân Quận R là nơi các bên thực hiện hợp đồng. Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng bị đơn là người nước ngoài, không còn quốc tịch Việt Nam, không cư trú tại Việt Nam tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận R thụ lý vụ án và cư trú thường xuyên tại nước ngoài do đó vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận R mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào hợp đồng thuê nhà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn bà Trần Thị Y có địa chỉ tại 152E đường D, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội. Bà Y được đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cấp hộ chiếu số N1580089 do Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cấp ngày 28/3/2012. Hộ chiếu nêu trên được cơ quan có thẩm quyền cấp cho người có quốc tịch Việt Nam; Căn cứ Công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 2219 CV/QLXNCP4 ngày 10 tháng 8 năm 2016 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an xác định bà Y dùng hộ chiếu N1580089 xuất nhập cảnh Việt Nam nhiều lần và tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận R thụ lý vụ án 02/11/2015 bà Y đã nhập cảnh Việt Nam từ ngày 18/7/2015 và sau đó ngày 29/11/2015 mới xuất cảnh. Sau đó bà Y tiếp tục nhập cảnh, xuất cảnh nhiều lần. Quá trình Tòa án nhân dân Quận R giải quyết vụ án, bà Y có trực tiếp tham gia tố tụng, uỷ quyền cho người đại diện là ông Ngô Trọng I tham gia tố tụng, trình bày ý kiến thưc hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng của minh. Do đó Toà án nhân dân Quận R thụ lý, giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền.