MỤC LỤC

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 26/2021/DS-PT ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2020/DS-PT ngày 18/5/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xây dựng

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 55/2019/KDTM-PT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 314/2025/DS-PT ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 299/2025/DS-PT ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 420/2023/DS-PT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 241/2023/DS-PT ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2023/DS-PT ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 193/2021/DS-PT ngày 14/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 20/2020/DS-PT ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tàu cá

 

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 26/2021/DS-PT ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung hủy án:

Quá trình giải quyết vụ án, ông D và bà T1 cung cấp cho Tòa án chứng cứ là Giấy chứng nhận bảo hiểm thể hiện thông tin: giấy chứng nhận bảo hiểm số TN190132947 ngày 20/8/2019 cho xe biển số 51F-712.23, chủ xe Nguyễn Thùy L (Bà Linh đã ủy quyền cho ông D bà T1); Thời hạn bảo hiểm: từ 07 giờ 00 phút ngày 20/8/2019 đến 07 giờ 00 phút ngày 20/8/2020; Quy tắc bảo hiểm: Quy tắc, biểu phí bảo hiểm tự nguyện xe ô tô ban hành kèm theo Quyết định số 370/QĐ-P ngày 26/12/2018 của Tổng giám đốc P; Số tiền bảo hiểm: 750.000.000 đồng; Phí bảo hiểm: 12.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình làm việc tại cấp sơ thẩm thể hiện tại các BL 85-93; BL 128-131 thì giữa bà T4 và ông D bà T1 nhiều lần trình bày mâu thuẫn nhau về nhiều nội dung, cụ thể: Thời điểm và người chủ động gọi để yêu cầu bảo hiểm, thời gian thực tế cấp bảo hiểm; việc kiểm tra xe và chụp ảnh xe khi cấp đơn bảo hiểm. Cấp sơ thẩm không tiến hành đối chất để làm rõ được trách nhiệm của các bên. Do đó, cần phải đưa bà T4 và Tổng công ty B Việt Nam vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án này thì mới giải quyết triệt để vụ án.

Những thiếu sót trên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2020/DS-PT ngày 18/5/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xây dựng

Nội dung hủy án 

(i) Báo cáo giám định cuối cùng của HDC không đồng nhất về số liệu; nguyên đơn không nhất trí với kết quả giám định của công ty giám định HDC. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không đề nghị Tòa án sơ thẩm chỉ định giám định viên độc lập thực hiện việc giám định tổn thất, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn thừa nhận một số hạng mục do phía công ty giám định HDC cho rằng không thuộc phạm vi bảo hiểm nên không đưa ra kết luận về mức độ tổn thất vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm không ra quyết định trưng cầu giám định độc lập để xác định tổng tổn thất là không phù hợp Điều 48 Luật kinh doanh bảo hiểm.

(ii) Trong trường hợp này mặc dù nguyên đơn không đề nghị nhưng hồ sơ vụ án có nhiều mâu thuẫn về số tiền phải bồi thường, các kết luận giám định không đồng nhất, trước khi khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không nhất trí kết luận giám định và nhiều lần thay đổi mức yêu cầu bị đơn bồi thường, các hóa đơn không rõ ràng, không đủ căn cứ chứng minh thiệt hại. Để có căn cứ phán quyết thì Tòa án cấp sơ thẩm cần phải thực hiện thủ tục giám định tổn thất theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, và buộc nguyên đơn nộp tạm ứng chi phí giám định theo quy định tại khoản 2 điều 159 BLTTDS. Từ đó mới có cơ sở để giải quyết và phán quyết đối với vụ án.

(iii) Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận những tổn thất của các vụ như sạt lở ta luy dương, ta luy âm vv.. đều thuộc trường hợp không thể sửa chữa khắc phục, phục hồi các hạng mục trở lại trạng thái ban đầu, nguyên đơn khởi kiện và đề nghị buộc bị đơn thanh toán khoản tiền sửa chữa các hạng mục bị tổn thất là chưa phù hợp với thỏa thuận tại điểm 8.8 điều 8 và điểm 10.2 điều 10 của hợp đồng đã ký kết. Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc trưng cầu giám định độc lập, không thu thập tài liệu để xác định giá trị ban đầu của hạng mục bị tổn thất là bao nhiêu, phần sửa chữa có vượt quá giá trị ban đầu của hạng mục bị tổn thất hay không là không phù hợp với điểm b mục 3.2 điều 9 quy tắc bảo hiểm xây dựng ban hành kèm theo quyết định 633/2013/QĐ/TSC/TGĐ và thỏa thuận tại khoản 8.8 và khoản 10.2 mà các bên đã ký kết trong hợp đồng bảo hiểm.

(iv) Trong vụ án này bị đơn là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P không thực hiện đúng thỏa thuận đã được ghi trong điều 8.8 của hợp đồng, sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên bị đơn đã có mặt tại hiện trường, ký biên bản hiện trường nhưng sau đó không thực hiện trách nhiệm giám định của doanh nghiệp bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng cũng như quy định trong luật kinh doanh bảo hiểm, nhưng do chưa đủ căn cứ xác định mức độ tổn thất nên việc xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được phát quyết khi có kết quả giám định độc lập trong quá trình giải quyết lại vụ án.

(v) Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không đề nghị Hội đồng xét xử giám định để xác định tổng mức độ tổn thất, do đó không đủ căn cứ xác định mức độ tổn thất trong vụ án này, những thiếu sót này của Tòa án cấp sơ thẩm không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm. Do vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy một phần bản án sơ thẩm số 82/2019/DSST ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T đối với phán quyết về số tiền bồi thường các vụ tổn thất ngày 09/8/201; 15/9/2016; 03/7/2017.

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 55/2019/KDTM-PT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung hủy án 

(i) Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, cụ thể đưa Chi nhánh tại Đà Nẵng của NLQ1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không phù hợp với quy định tại Điều 68 và 69 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự tham gia vụ việc dân sự phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự, nếu đương sự là cơ quan, tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân, theo quy định tại Điều 86 Bộ luật Dân sự. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân, nên không có năng lực pháp luật tố tụng dân sự (Điều 84 Bộ luật Dân sự). Trường hợp này lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải đưa NLQ1 vào tham gia tố tụng mới đúng pháp luật. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành tống đạt đến địa chỉ Chi nhánh, đồng thời người tham gia tố tụng là nhân viên của Chi nhánh chỉ có giấy giới thiệu mà không được ủy quyền, nên không có cơ sở xác định NLQ1 đã biết về nội dung vụ án.

(ii) Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định “Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm...”. Tuy nhiên, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đã không được bị đơn thể hiện rõ trong Hợp đồng cam kết ba bên bảo hiểm xe cơ giới số P18/DNA/CNG/5100/000036 ngày 14/3/2018 là vi phạm Luật kinh doanh bảo hiểm. Ngoài ra, như nhận định tại Mục [6] nguyên nhân cháy được xác định là do chập điện tại bình ắc quy của xe gây cháy lan, là nguyên nhân bất khả kháng, không phải do lỗi cố ý hoặc vô ý của người mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Tại biên bản vụ cháy ngày 17/5/2018 và Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/5/2018 của Phòng Cảnh sát PC&CC số 5 thuộc Cảnh sát Phòng cháy & Chữa cháy thành phố Đà Nẵng ghi nhận “Đám cháy có diện tích khoản 6m2, chất cháy chủ yếu là xăng dầu, nhựa tổng hợp; “Tại hiện trường cháy để lại 05 – 06 phuy dầu bị cháy hoàn toàn” mà không thể hiện các phuy dầu trên xe là phuy chứa dầu. Do vậy, Công ty bảo hiểm P cho rằng trên xe chở dầu, thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại điểm 7 Điều 11 Quy tắc bảo hiểm vật chất xe ô tô được ban hành theo Quyết định số 108/2015/QĐ/TS/TGĐ ngày 27/02/2015 của P để từ chối trách nhiệm bảo hiểm là không có cơ sở. Công ty bảo hiểm P phải bồi thường toàn bộ tổn thất, trong phạm vi bảo hiểm đối với xe ô tô mang biển kiểm soát số BKS 43C–179.12 của ông T.

(iii) Trong giai đoạn giải quyết tại cấp phúc thẩm đại diện NLQ1 và ông T cùng xác nhận, hiện ông T còn nợ NLQ1 cả gốc và lãi là 168.645.000đ. Như vậy, theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng cam kết bảo hiểm ba bên nêu trên thì phải buộc P thanh toán cho người thụ hưởng đầu tiên là NLQ1 đối với số tiền mà ông T còn nợ NLQ1rước, khoản tiền còn lại mới thanh toán cho ông T. Nhưng bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T, tuyên Công ty Bảo hiểm P phải trả toàn bộ tiền bồi thường cho ông T là không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thụ hưởng là NLQ1. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của ông T còn cho rằng việc cam kết chuyển quyền thụ hưởng bảo hiểm vật chất xe cho bên thụ hưởng duy nhất là bên NLQ1heo Hợp đồng bảo hiểm đã hết hiệu lực, nên ông T là người được hưởng toàn bộ tiền bảo hiểm xe oto do Công ty bảo hiểm bồi thường. Ngân hàng muốn được hưởng khoản tiền này thì phải khởi kiện bằng vụ kiện khác. Ý kiến của đại diện nguyên đơn là không đúng quy định thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm ba bên đã ký kết và quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm như phân tích trên.

(iv) Do Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của NLQ1, không giải quyết quyền lợi của người thụ hưởng NLQ1 nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nếu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc P thanh toán cho người thụ hưởng đầu tiên là NLQ1 đối với số tiền mà ông T còn nợ NLQ1 trước, khoản tiền còn lại mới thanh toán cho ông T thì sẽ mất quyền kháng cáo của các bên đương sự. Do vậy, HĐXX phúc thẩm chấp nhận ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 314/2025/DS-PT ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Tại Toà án, B2 trình bày Giấy chứng nhận bảo hiểm số P-18/NAN/NVU/2600/0146 ngày 14/8/2018 viện dẫn Quy tắc bảo hiểm được áp dụng là quy tắc được chấp thuận đăng ký theo công văn số 6081/BTC-QLBH ngày 25/05/2018 của Bộ T3" là do lỗi thiết kế và đánh máy mẫu giấy chứng nhận bảo hiểm đã in sai công văn ban hành quy tắc và B2 đã ban hành Giấy sửa đổi, bổ sung số E-18/NAN/NVU/2600/0146-01 sửa đổi quy tắc được chấp thuận là Quy tắc đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ T3". Tuy nhiên, Giấy sửa đổi, bổ sung này không có chữ ký xác nhận của ông B, ông B không thừa nhận đã được B2 tư vấn, giải thích và cung cấp Quy tắc trên; B2 cũng không cung cấp được tài liệu thể hiện đã cung cấp cho ông B Quy tắc theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ T3 nên có cơ sở xác định Quy tắc bảo hiểm được B2 áp dụng để miễn trừ trách nhiệm bảo hiểm không được quy định trong Hợp đồng bảo hiểm giữa ông B và B2. Quy tắc bảo hiểm là văn bản do doanh nghiệp B4, không phải là quy phạm pháp luật nên phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm và phải được giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 16, 17 và 19 Luật kinh doanh bảo hiểm. Theo quy định tại Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm thì trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hưởng có lợi cho bên mua bảo hiểm. Như vậy, việc PJICO Nghệ An viện dẫn điểm b mục 1 Điều 15 Quy tắc bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ “theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015” để từ chối bồi thường cho ông B là không đúng với thoả thuận giữa hai bên theo Hợp đồng bảo hiểm. Yêu cầu bồi thường tổn thất chìm tàu của ông B là có căn cứ, cần được chấp nhận.

(ii) Ngoài ra, việc B2 trình bày tàu cá NA-90041-TS thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình tàu cá và phải lắp trước ngày 01/07/2019 nhưng nguyên đơn/chủ tàu không tuân thủ quy định về quản lý, sử dụng thiết bị giám sát hành trình cho tàu cá, không trang bị thiết bị giám sát hành trình nhưng chủ tàu vẫn ra khơi để khai thác thủy sản là vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 và điểm e khoản 3 Điều 44 Nghị định 42/2019/NĐ-CP là không chính xác. Tàu NA-90041-TS có chiều dài dưới 24m nên thời hạn phải lắp thiết bị giám sát là trước ngày 01/01/2020, do vậy, tại thời điểm bị chìm tàu không bắt buộc phải lắp thiết bị giám sát. Và việc B2 trình bày tàu cá NA-90041-TS gặp nạn, tàu cá NA-90041-TS tại tọa độ (19.14N; 105.59E) trong Vịnh B nằm trong vùng Lộng thuộc vùng biển Việt Nam và đang nằm ngoài phạm vi được phép hoạt động hành vi khai thác thủy sản là kinh doanh trái phép và vi phạm lệnh cấm của cơ quan nhà nước thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo điểm đ khoản 1 Điều 15 Quy tắc bảo hiểm là không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử. Theo quy định tại Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm thi trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.

(iii) Đối với yêu cầu về tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 16/9/2021 (Ngày Pjico có văn bản từ chối chỉ trả bảo hiểm) đến ngày tuyên án sơ thẩm, lãi suất áp dụng là 10%/năm. Số tiền lãi chậm trả là 221.666.666 đồng, xét thấy: Theo quy định tại Điều 29 Luật kinh doanh bảo hiểm “Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp B4 phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường". Sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, ông B đã yêu cầu PJICO thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm và ngày 16/9/2019 PJICO có văn bản từ chối bảo hiểm là vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 16/9/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 29 Luật kinh doanh bảo hiểm và các Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

(iv) Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường số tiền bảo hiểm do tổn thất toàn bộ là 700.000.000 đồng theo thoả thuận trong Hợp đồng bảo hiểm và tiền lãi chậm thanh toán tiền bảo hiểm theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là không phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm như đã nhận định trên.

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 299/2025/DS-PT ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Như vậy, quyết định 320/QĐ BYT ngày 23/01/2014 của Bộ Y cũng không hề mâu thuẫn với quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5, Điều 35 Luật phòng chống tác hại rượu bia, điểm c khoản 6 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe.

(ii) Từ những phân tích trên cho thấy: Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 11/3/2022 (ngay sau khi xảy ra tai nạn) của ông Nguyễn Thành L tại Bệnh viện T3 thể hiện: Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của ông Nguyễn Thành Llà: 1,58mmol/L. Trường hợp này của ông L. đã vi phạm điều Điều 8 Quy tắc bảo hiểm ô tô ban hành kèm theo Quyết định số 2758/2018/QĐ-BSH-QLNV1 hành 25/12/2018 của Tổng công ty cổ phần B kèm theo Hợp đồng Bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới đã ký kết giữa hai bên: “Những điểm loại trừ chung: BSH không chịu trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp sau: ban

"4. Người điều khiển xe ô tô trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu hoặc khi thở, sử dụng ma túy và chất kích thích bị cẩm theo quy định của pháp luật"

(iii) Từ những phân tích trên cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm nhận định đánh giá về các tình tiết có trong vụ án để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đúng, chưa phù hợp thỏa thuận của hai bên tại Hợp đồng Bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới và điều 8 Quy tắc bảo hiểm ô tô ban hành kèm theo Quyết định số 2758/2018/QĐ-BSH-QLNV1 ban hành 25/12/2018. Hội đồng xét xửphúc thẩm chấp nhận khảng cáo của bị đơn là Tổng công ty cổ phần B, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm – không chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của ông Nghiêm Văn T về yêu cầu: Buộc Tổng Công ty Cổ phần B) thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới đã ký kết ngày 11/10/2021, phải có trách nhiệm thanh toán bảo hiểm đối với thiệt hại chiếc xe ô tô nhân hiệu Huyndai Elantra BKS: 20A 415.27 số tiền: 190.206.136 đồng (một trăm chín mươi triệu, hai trăm linh sáu nghìn, một trăm ba mươi sáu đồng).

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tại phiên toà là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 420/2023/DS-PT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Điều 3 Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới số 042-KD04/21/2G/HĐ/027889 ngày 26/01/2021 quy định về Điều kiện, điều khoản, điểm loại trừ bảo hiểm theo “Quy tắc bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới” ban hành theo Quyết định số 2758/2018/QĐ-B-QLNVI ngày 25/12/2018 của Tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm S-Hà Nội.

Tại giấy yêu cầu bảo hiểm số 042-KD04/21/2G/HD/0278889 do ông Tạ Văn P ký tên, có dóng dấu xác nhận của Công ty bảo hiểm B Hà Thành thể hiện nội dung ông Tạ Văn P đã đọc và hiểu “Quy tắc bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự” của nhà nước; “Quy tắc bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới” hiện hành của B.

Điều 8 quy tắc bảo hiểm ô tô ban hành kèm theo QĐ số 2758/2018/QĐ-B-QLNV1 ban hành 25/12/2018 của Bảo hiểm B quy định: “Những điểm loại trừ chung; B không chịu trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp sau: 4. Người điều khiển xe ô tô trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu hoặc khí thở, sử dụng ma túy và chất kích thích bị cấm theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, “Quy tắc bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới” ban hành theo Quyết định số 2758/2018/QĐ-B-QLNVI ngày 25/12/2018 của Tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm S-Hà Nội đã được quy định cụ thể trong hợp đồng Bảo hiểm và ông Tạ Văn P đã được đọc và hiểu rõ điểm loại trừ bảo hiểm theo đúng quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

(ii) Thời điểm xét nghiệm nồng độ cồn vào 02/10/2021 là thời điểm Luật giao thông đường bộ, Luật phòng chống tác hại rượu bia đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, Công văn số 871/BVĐKBV-KHTH ngày 30/12/2022 của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì trả lời công văn số 986/2022/CV-TA ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm căn cứ vào Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014 của Bộ y tế về việc ban han hành tài liệu “hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành hóa sinh” xác định nồng độ cồn 1,85mmol/L là chỉ số xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người bình thường không sử dụng rượu bia là không chính xác. Bởi trong Quyết định 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014 chỉ xác định “trị số bình thường: < 10.9mmol/L” chứ không có nội dung nồng độ cồn < 10.9mmol/L là chỉ số xét nghiệm nồng độ cồn của người bình thường không sử dụng rượu bia.

(iii) Như vậy, căn cứ kết quả xét nghiệm ethanol của anh Lê Tiến D tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vì ngày 02/10/2021 là 1.85mmol/l đủ cơ sở xác định anh Dũng khi lái xe trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu và gây tai nạn giao thông làm xe ô tô của anh P bị hư hỏng nặng thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường bảo hiểm theo Điều 8 quy tắc bảo hiểm ô tô ban hành kèm theo QĐ số 2758/2018/QĐ-B-QLNV1 ban hành 25/12/2018 của Bảo hiểm B, Điều 3 Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới số 042-KD04/21/2G/HĐ/027889 ngày 26/01/2021 quy định về Điều kiện, điều khoản, điểm loại trừ bảo hiểm.

(iv) Như vậy, quyết định 320/QĐ – BYT ngày 23/01/2014 của Bộ y tế cũng không hề mâu thuẫn với quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5, Điều 35 Luật phòng chống tác hại rượu bia; điểm c khoản 6 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

(v)Từ những phân tích trên cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm nhận định đánh giá về các tình tiết có trong vụ án để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đúng, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần phải chấp nhận kháng cáo của bị đơn là Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm S- Hà Nội, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm – không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn P về yêu cầu Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm S- Hà Nội phải bồi thường thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi màu đen số khung MK2LRNC1WLN012518, số máy 4A9HY9648; Biển kiểm soát 30G-xxxxx với tổng số tiền: 328.512.000 đồng (trong đó: số tiền sửa xe là: 299.319.000 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán là: 29.193.000 đồng).

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 241/2023/DS-PT ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Phía nguyên đơn cho rằng các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm mà bị đơn viện dẫn nguyên đơn chưa từng biết do chưa được giải thích rõ ràng và cũng không quy định rõ trong Hợp đồng bảo hiểm. Chính trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, phần Quy tắc bảo hiểm được ghi bằng 1 dòng viết tắt rất đơn giản « QTBH bắt buộc – BTC » nên trong phần lập luận của đại diện nguyên đơn xác định lỗi chính của Công ty bảo hiểm là có.

Như vậy, tại điểm a khoản 2 Điều 17 của Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ: Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm” và khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua...”. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng”. Trong khi đó, các bên đương sự đều thừa nhận ngoài cung cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 19/02/2019, theo Hợp đồng bảo hiểm phía Công ty Bảo hiểm cấp cho bà L cũng không được giải thích cụ thể về điều khoản loại trừ bảo hiểm.

(ii) Đến khi xảy ra sự cố, bị đơn đã yêu cầu Công ty Cổ phần TĐ-GĐ CL xác định nguyên nhân dẫn đế sự cố chìm sà lan và căn cứ theo kết quả báo cáo giám định thì nguyên nhân dẫn đến chìm Sà lan là do “bộ phận lấy, xả nước vào hầm phao mũi của xà lan số CT-07660 bị xâm thực và ăn mòn làm phần tole ống sắt ngay vị trí nối với lường sà lan bị mòn (độ dày ngay vị trí bị gãy đo được là 0,5mm, độ dày ban đầu 10mm) dẫn đến bị gãy làm nước từ bên ngoài tràn vào hầm phao mũi…”. Từ cơ sở này của Kết luận giám định, Công ty Bảo Việt xác định đây là nguyên nhân hao mòn do tự nhiên và không chịu trách nhiệm trả tiền bảo hiểm theo Điều 16, Điều 45 Luật kinh doanh bảo hiểm vì cho rằng điều này phù hợp với bộ Quy tắc Bảo hiểm tàu thủy nội địa và mục 5.1 và 5.2 Điều 5 của Hợp đồng bảo hiểm tàu thủy nội địa là chưa có thuyết phục và gấy ảnh hưởng hưởng quyền lợi của người tham gia bảo hiểm.

(iii) Thấy rằng, do Công ty Bảo hiểm không thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của mình khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với bà L dẫn đến việc bà L không nắm bắt được quy định về “loại trừ bảo hiểm”. Rõ ràng, khi giao kết hợp đồng bảo hiểm bên bán bảo hiểm đã không giải thích cụ thể nên dẫn đến việc bà L không nắm bắt được quy định về “loại trừ bảo hiểm, do đó, không có cơ sở để áp dụng quy định về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với bà L nên Tổng Công ty Bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường cho bà L.

(iv) Án sơ thẩm cho rằng nguyên đơn chưa hiểu rõ các Điều khoản của hợp đồng nhưng vẫn đồng ý giao kết và ký tên vào hợp đồng bảo hiểm xem như mặc nhiên chấp nhận các điều khoản của Hợp đồng bảo hiểm theo khoản 1 Điều 405 Bộ luật dân sự là chưa hoàn toàn thuyết phục. Cần phải phân tích thêm về tổn thất do hao mòn tự nhiên để làm căn cứ xác định quan điểm cho nhưng lập luận này, theo quy tắc chung được hướng dẫn giải thích : « Bị tổn thất do hao mòn tự nhiên là do yếu tố tự nhiên khách quan dẫn đến hiện tượng suy giảm về chức năng và giá trị tài sản ».

Các Công ty bảo hiểm đối với sự kiện bảo hiểm xảy ra nhưng thông qua hoạt động giám định để làm căn cứ loại trừ bảo hiểm và cho rằng nguyên nhân hao mòn do tự nhiên là chưa hoàn toàn thuyết phục. Bởi nếu biết trước máy móc đã bị hao mòn tự nhiên, không ai đưa Sà Lan ra hoạt động rồi xảy ra sự cố để lấy tiền bảo hiểm đánh đổi tài sản và có khi là mạng sống của chính họ. Công ty Bảo hiểm cũng không thực hiện việc kiểm tra theo quy định trong hợp đồng trong suốt quá trình phương tiện lưu thông và khi xảy ra sự kiện pháp lý cần được bảo hiểm thì lại cho rằng lỗi này hoàn toàn của chủ phương tiện.

(v) Ngoài ra, theo Quy tắc Bảo hiểm tàu thuỷ nội địa tại khoản 1 Điều 8 có quy định những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm với quy định rất cụ thể « Tàu không đủ khả năng hoạt động, không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật còn hiệu lực và các giấy chứng nhận khả năng hoạt động khác còn hiệu lực theo yêu cầu của cơ quan đăng kiểm ». Đối chiếu với các giấy tờ nguyên đơn cung cấp đủ đảm bảo : Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủ nội địa ngày cấp 11/4/2019 và ngày hết hiệu lực là 26/2/2020 nên khi Sà Lan xảy ra sự cố vào ngày 06/1/2020 là Sà lan trong thời hạn đăng kiểm và có đầy kèm theo các Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng, máy trưởng; Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thuỷ nội địa… tất cả đều còn hiệu lực.

(vi) Đối với việc nguyên đơn cho rằng bị đơn tự ý chỉ định Công ty thẩm định và không đồng ý với kết quả giám định của Công ty Cổ phần TĐ-GĐ CL. Thấy rằng:

Việc thực hiện trong quá trình giải quyết vụ việc theo các biên bản giám định, thẩm định hiện trạng ngày 17/01/2020 và ngày 12/02/2020 giữa Công ty Cổ Cửu Long tuy có làm việc với ông Nguyễn Văn Lá (thuyền trưởng), ông Nguyễn Thanh T (đại diện chủ phương tiện, chồng bà Võ Kim L) khi đó chỉ là thủ tục để Công ty Cửu Long tiến hành thẩm định, án sơ thẩm cho rằng nguyên đơn đồng ý với kết quả giám định là chưa đúng với bản chất sự việc bởi nguyên đơn sau khi có kết luận giám định đã thực hiện việc khởi kiện tại Toà án. Và chính tại các phiên toà Công Ty Bảo hiểm cũng xác định chưa cung cấp bổ sung hồ sơ kết luận của Công ty Cửu Long cho Toà án cũng như phía bà L. Chính vì vậy, bà L cũng mất đi cơ hội thực hiện việc khiếu nại hay yêu cầu một đơn vị nào khác thực hiện giám định lại. Và việc này cho đến nay không thể khắc phục được nên vì vậy lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty Bảo hiểm.

Hơn nữa, việc xử lý khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, Công ty Bảo Việt đã để quá chậm; Thời gian xác định theo quy định tại Điều 3.8 là phải bồi thường tổn thất trong hạn 30 ngày nhưng Công ty Bảo hiểm đến 180 ngày tức 06 tháng mới ra Văn bản trả lời từ chối bảo hiểm.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là không là có cơ sở và vì vậy cần xem xét đánh giá để buộc Công ty Bảo hiểm phải trả khoản bồi thường thiệt hại những tổn thất của nguyên đơn sau sự cố chìm sà lan.

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2023/DS-PT ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

Xét thấy, việc đăng kiểm phương tiện tàu biển hàng năm của tàu cá biển kiểm soát BT-97616-TS đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Khi tàu cá biển kiểm soát BT-97616-TS xuất bến để khai thác thủy sản có trình trạm Kiểm soát Biên phòng SĐ thuộc Đồn biên phòng SĐ, tỉnh CM. Ngày 07/10/2021, khi tàu cá biển kiểm soát BT-97616-TS đang đánh bắt thủy sản tại khu vực biển có tọa độ (07052’-105046’) thì xảy ra sự cố cháy tàu và sau đó chìm tàu. Khi xảy ra sự cố cháy tàu vào ngày 07/10/2021 thì tàu vẫn còn trong thời hạn được bảo hiểm và sự cố cháy tàu là do chập điện bên trong buồng máy, gây ra các tổn thất cháy tàu và sau đó bị chìm là sự cố khách quan, bất khả kháng, không có lỗi của chủ tàu. Khi xảy ra sự cố, tất cả thuyền viên trên tàu khẩn trương dập lửa nhưng ngọn lửa quá lớn không thể dập tắt được nên tất cả thuyền viên đã nhảy xuống biển rời khỏi tàu để thoát nạn. Ngoài ra, khi đàm phán để tiến hành ký kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm chưa được phía bán bảo hiểm giải thích rõ ràng về các điều kiện miễn trừ trách nhiệm bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm thực tế là đơn bảo hiểm tàu cá không có chữ ký của người mua bảo hiểm cho nên không có căn cứ xác định người mua bảo hiểm hiểu rõ các điều khoản nêu trong hợp đồng do BM dẫn chiếu. Các điều khoản dẫn chiếu quy định về bằng cấp thuyền trưởng, thuyền phó, máy trưởng, thợ máy, thủy thủ,…nhằm đảm bảo việc vận hành tàu được an toàn, đúng quy định pháp luật về giao thông đường biển. Khi xuất bến trên tàu cá biển kiểm soát BT-97616-TS (tàu cái) có ông L2 có chứng chỉ máy trưởng, khi xảy ra sự cố ông L2 đã di chuyển sang tàu cá biển kiểm soát BT-97887-TS (tàu đực) do ông L2 bị bệnh nặng. Việc máy trưởng có chứng chỉ thấp hơn quy định không là nguyên nhân gây ra thiệt hại, không ảnh hưởng đến việc gây ra sự cố cũng như giảm thiệt hại do chập điện. Sự cố chập điện cháy tàu là sự kiện khách quan, bất khả kháng, không phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của các thuyền viên trên tàu. Do đó, trong trường hợp này bị đơn căn cứ vào điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm để từ chối chi trả tiền bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên được ký kết còn trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, do đó nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T1 và bà Quang Thị Xuân C về việc yêu cầu Tổng Công ty cổ phần BM bồi thường số tiền bảo hiểm là 1.400.000.000 đồng.

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 193/2021/DS-PT ngày 14/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới

Nội dung sửa án 

(i) Theo nguyên đơn ông Đỗ Thế Q trình bày thì ngày 27/11/2018 ông mua chiếc xe ô tô nêu trên. Ngày 29/11/2018 ký Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 4101802498/F02 45 và đến ngày 30/11/2018 ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô và Hợp đồng tín dụng số 403.011 2018 vay Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Long Biên số tiền 190.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, để thanh toán tiền mua xe ô tô. Ngày 08/12/2018, ông Q trình báo tại Công an phường TT, quận DĐ về việc bị mất trộm xe ô tô Suzuki Van BKS: 29D-410.45. Đồng thời, ông Q cũng đã thông báo tới Công ty cổ phần bảo hiểm hàng không T(Đơn vị thành viên của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm hàng không) và được Công ty cổ phần bảo hiểm hàng không Thướng dẫn làm các thủ tục để được chi trả bảo hiểm thiệt hại vật chất. Như vậy, kể từ lúc ông Q mua xe ô tô, ký hợp đồng mua bảo hiểm đến thời điểm ông Q trình báo mất xe ô tô chỉ từ ngày 27/11/2018 đến ngày 08/12/2018.

(ii) Ông Q cho rằng ông vẫn đang trả gốc và lãi do chiếc xe ô tô bị mất trộm và yêu cầu bảo hiểm phải có nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm xe ô tô Suzuki van BKS 29D-410.45 do bị mất cắp toàn bộ xe ô tô căn cứ Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 4101802498/F02 ký ngày 29/11/2018.

Nhưng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xác minh tại Công an quận DĐ thể hiện: Ngày 08/12/2018, ông Đỗ Thế Q có trình báo về việc mất trộm xe ô tô tại Công an phường TT, quận DĐ. Ngày 10/12/2018, Công an phường TT chuyển hồ sơ tin báo tội phạm của ông Q đến Công an quận DĐ để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận DĐ đã tiến hành xác minh, giải quyết tin báo tội phạm. Tuy nhiên, do hết thời hạn xác minh đơn thư nên đã ban hành thông báo số 122 ngày 11/2/2019 về việc tạm đình chỉ giải quyết đơn tố giác nêu trên. Từ tháng 02/2019 đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận DĐ chưa phục hồi, tiếp tục giải quyết đơn tố giác trên do chưa có đủ căn cứ và sẽ phục hồi việc giải quyết khi có đủ căn cứ.

(iii) Tại Điều 15 – 2.2 Quy tắc bảo hiểm kết hợp xe cơ giới (ban hành kèm theo quyết định số 80/2015/QH-BHHK ngày 06/5/2015 của Tổng giám đốc Công ty CP Bảo hiểm hàng không quy định bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất toàn bộ xe bị mất trộm, mất cướp khi có kết luận của cơ quan công an đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ khởi tố hình sự liên quan đến mất trộm, mất cướp của chính chiếc xe đó.

Phù hợp với ý kiến của bị đơn về việc đã nhiều lần gửi công văn đến cơ quan Công an để hoàn tất thủ tục chi trả tiền bảo hiểm cho nguyên đơn nhưng đến thời điểm hiện nay Công an quận DĐ chưa có căn cứ để ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với sự việc mất xe ô tô theo tin báo của ông Quang.

Đối với hồ sơ yêu cầu bồi thường của ông Đỗ Thế Q không có một trong các Quyết định nêu trên mà chỉ có Thông báo về việc tạm đình chỉ giải quyết đơn tố giác là chưa đầy đủ, chưa chứng minh được tổn thất toàn bộ xe ô tô bị mất trộm như trình báo, chưa đủ điều kiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 4101802498/F02 45 ngày 29/11/2018 và Quy tắc bảo hiểm kết hợp xe cơ giới ban hành kèm theo Quyết định số 80/2015 – QĐ – BHHK ngày 06/5/2015 của Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng Không. Nguyên. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không xuất trình được thêm tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh.

(iv) Từ những nhận định nêu trên, kháng cáo của bị đơn là có cơ sở nên được chấp nhận. Sửa án sơ thẩm theo nhận định nêu trên và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đòi Tổng công ty cổ phần bảo hiểm hàng không phải có nghĩa vụ chi trả 284.140.000 đồng tiền bảo hiểm do bị mất cắp toàn bộ xe ô tô Szuki van BKS 29D-410.45 do chưa đủ các điều kiện theo Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 4101802498/F02 ký ngày 29/11/2018 và Quy tắc bảo hiểm kèm theo Quyết định số 80 ngày 06/5/2015 của Tổng Giám đốc cty bảo hiểm Hàng Không và quy định của pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về việc đòi tiền lãi theo lãi suất vay ngân hàng kể từ ngày xảy ra sự kiện Bảo hiểm từ 11/12/2018 đến ngày 30/06/2020 là 51.179.928 đồng do chậm trả.

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 20/2020/DS-PT ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tàu cá

Nội dung sửa án 

(i) Từ những quy định viện dẫn trên, buộc chủ tàu cá phải biết khi tham gia hoạt động thủy sản phải bảo đảm tàu cá luôn ở trạng thái an toàn. Tuy nhiên, ngày 25/5/2018 khi tàu cá QNg – 97417 - TS của ông L làm thủ tục xuất bến tại Cửa Hội, Nghệ An để hành nghề khai thác thủy sản thì có 02 thuyền viên có chứng chỉ Thuyền trưởng và Máy trưởng như đăng ký trong Sổ danh bạ thuyền viên, nhưng khi tàu cá QNg – 97417 - TS xảy ra tai nạn làm chìm tàu tại vùng biển Quảng Ngãi thì trên tàu chỉ có ông Đỗ Văn Đ có chứng chỉ Thuyền trưởng hạng tư, còn Thuyền viên Trần Nhật N, không có chứng chỉ Máy trưởng hạng tư theo quy định tại Quyết định 77. Tại phiên tòa, nguyên đơn thừa nhận khi làm thủ tục xuất bến có đầy đủ Thuyền trưởng và Máy trưởng, đến khi xuất bến thì Máy trưởng là ông Đỗ Văn Ngọc có việc gia đình nên không đi được. Do đến giờ xuất bến nên phải xuất bến mà không có Máy trưởng.

(ii) Như vậy, tại thời điểm xảy ra tai nạn, trên tàu cá QNg – 97417 - TS không có thuyền viên có chứng chỉ Máy trưởng hạng tư là không bảo đảm an toàn, nhưng chủ tàu là ông L vẫn cho tàu xuất bến để khai thác thủy sản là không đúng theo các quy định đã viện dẫn ở trên, nên B từ chối bồi thường là có căn cứ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông L, buộc B bồi thường thiệt hại tàu cá là không có căn cứ. Do đó, kháng cáo của B là có cơ sở, được chấp nhận; sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông L