MỤC LỤC

1. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 27/2025/HNGĐ-PT ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà nẵng về việc ly hôn, tranh chấp tài sản chung và nợ chung

2. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 39/2025/HNGĐ-PT ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc ly hôn, tranh chấp về tài sản khi ly hôn

3. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 41/2025/HNGĐ-PT ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

4. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 19/2025/HNGĐ-PT ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân Tỉnh Bến Tre về việc ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung

5. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 490/2019/HNGĐ-PT ngày 25/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp ly hôn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

6. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 19/2025/HNGĐ-PT ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về việc tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

7. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 39/2025/HNGĐ-PT ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản

8. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 32/2025/HNGĐ-PT ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung

9. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 24/2025/HNGĐ-PT ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn, đòi lại tài sản

10. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân tỉnh Cao Bằng về việc ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn

 

1. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 27/2025/HNGĐ-PT ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà nẵng về việc ly hôn, tranh chấp tài sản chung và nợ chung

Nội dung hủy án:

(i) Bà N kháng cáo cho rằng tại thửa đất 175/2 là do ông Lê V (cha của ông A) tặng cho vợ chồng bà. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông A và bà N được nhà nước công nhận diện tích đất là 288m2 tại thửa 175/2, tờ số 02. Thực tế đo đạc thì diện tích đất tại thửa 175/2 là 591,1m2.

Bà N yêu cầu Tòa án xác minh diện tích đất ngoài Giấy chứng nhận là 303,1m2 để chia vì bà cho rằng diện tích đất này nằm trong khuôn viên nhà và vợ chồng bà đã sử dụng từ năm 2001, sử dụng liên tục và ổn định, đủ điều kiện để được nhà nước cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh diện tích đất 303,1m2 so với Giấy chứng nhận là đất thuộc quyền sử dụng của ai, có phải do vợ chồng bà N khai hoang thêm như bà N trình bày hay không và Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xác định được diện tích đất 288m2 được cấp theo Giấy chứng nhận nằm vị trí nào trong diện tích đất thực tế 591,1m2 để quyết định giao cho bà N sử dụng. Điều này sẽ khó khăn trong việc cơ quan thi hành án thi hành bản án và cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtcho bà N.

(ii) Đối với thửa đất số 524, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông A bà N được nhà nước giao sử dụng 255m2, nhưng khi đo đạc thực tế diện tích chỉ có 10230,5m2. Như vậy diện tích đất còn thiếu 24,5m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ, lẽ ra cần làm rõ diện tích đất thiếu này nguyên nhân do đâu để khi quyết định giao đất cho ông A thì giao theo diện tích đất thực tế sử dụng, như vậy khi bản án có hiệu lực pháp luật thì ông A mới liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm được thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

(iii) Ngoài ra, quyết định của bản án tuyên giao các tài sản gắn liền trên đất nhưng không ghi cụ thể gồm nhà ở và cây cối có trên hai thửa đất nêu trên là thiếu sót, sau này cơ quan thi hành án sẽ không thi hành được bản án.

(iv) Đối với kháng cáo của bà N về khoản nợ của bà Lê Thị B số tiền 470.000.000 đồng và bà Lê Thị Mỹ P số tiền 100.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy thể hiện tại hồ sơ vụ án, có hai bản chính giấy nợ ghi nợ của nhiều người, trong đó có ghi hai khoản nợ của bà B và bà P do cháu Lê Thị Mỹ D viết và cháu D khai bà N đọc cho cháu viết. Tuy nhiên bà N không thừa nhận việc nhờ cháu D viết và bà N cũng không thừa nhận nhận có nợ tiền của bà B và bà P, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông A và cháu D để buộc bà N cùng ông A có nghĩa vụ trả khoản nợ tổng số tiền 570.000.000 đồng cho bà B và bà P là chưa đủ cơ sở.

(v) Về giá trịcủa các tài sản tranh chấp: Đối chiếu với Biên bản định giá và Bản án sơ thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản tranh chấp trong bản án có sai sót, không khớp về giá trị tài sản đã định giá, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

(vi) Về tính án phí: HĐXX sơ thẩm tính án phí buộc ông A, bà N phải chịu số tiền như quyết định của bản án sơ thẩm về tài sản, về nợ chung là không đúng nên ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần căn cứ vào Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tính án phí cho đúng pháp luật.

2. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 39/2025/HNGĐ-PT ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc ly hôn, tranh chấp về tài sản khi ly hôn

Nội dung hủy án 

(i) Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn” theo yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Mai T là đúng thẩm quyền. Tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vào ngày 06/10/2023, chị T có văn bản ủy quyền cho anh Nguyễn Văn N thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chị T theo quy định pháp luật, chị T xin vắng mặt các phiên họp, phiên tòa. Đối với anh N có tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, nhưng khi đưa vụ án được đưa ra xét xử vào các ngày 31/10/2024, ngày 26/11/2024 và tuyên án ngày 03/12/2024 Tòa án không triệu tập anh N đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, anh N không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã tiến hành xét xử vắng mặt anh N là vi phạm quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, anh N trình bày anh N đã bị bắt, tạm giam vào ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V và từ ngày 27/6/2024 đến nay anh N không nhận được văn bản tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập anh N tham gia phiên tòa sơ thẩm.

(ii) Trong vụ án này, chị T và anh P đã thống nhất quá trình sử dụng đất thửa số 142 vợ chồng có san lấp cát, lên líp, nhưng chưa thống nhất với nhau về số tiền đã đầu tư vào đất tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ về số tiền chị T và anh P đã đầu tư vào việc cải tạo đất như nêu trên để giải quyết vụ án được toàn diện, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

(iii) Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được và có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh P và chị T. Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, cần hủy một phần bản án sơ thẩm số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp) về chia tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích  3.737m2 , mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, tại ấp T, xã T huyện C, tỉnh Đồng Tháp ( nay là xã T, tỉnh  Đồng Tháp), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Lê Thanh P ngày 30/5/2019 và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét kháng cáo của anh P.

3. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 41/2025/HNGĐ-PT ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Nội dung hủy án 

(i) Căn cứ Hợp đồng thuê nhà, đất ngày 12/02/2022 (tại bút lục 52-53) giữa nguyên đơn bà Trần Thị Thu N là bên cho thuê và ông Cao Thăng L là bên thuê, thể hiện đối tượng cho thuê là căn nhà có diện tích 60m2 tại số A Hẻm A đường N, Khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/02/2022 (bút lục 70 73) giữa bà Lê Thị T (là mẹ ruột của nguyên đơn) và bà Phạm Thị Mai L1 đối với căn nhà nêu trên. Căn cứ vào 02 tài liệu này thể hiện đối tượng mua bán và cho thuê là tài sản đang tranh chấp theo yêu cầu phản tố của bị đơn ông N1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa triệu tập người thuê nhà là ông Cao Thăng L và người mua nhà là bà Phạm Thị Mai L1 để làm rõ; chưa làm rõ hai căn nhà này có phải là tài sản của ông N1 và bà N hay không; chưa xác minh nguồn gốc nhà, đất cũng như quá trình sử dụng đất theo quy định pháp luật mà chỉ xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T về việc các căn nhà nêu trên có được cấp Giấy chứng nhận hay chưa là chưa đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vì bị đơn ông N1 đã xác định tài sản tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận.

(ii) Đối với phần đất tại xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên: Căn cứ Biên bản họp Gia đình ngày 24/4/2012 (bút lục 74-75) có nội dung xác định thửa đất tại Tờ 6 bản đồ 303B, thửa số 132, diện tích 825m2 tại thôn Đ, xã H, huyện P là của bà Lê Thị T,  ông Trần  B cho các con gồm Trần Hải T1 (con  trai),  bà Nguyễn Thị Thanh T2 (con dâu – vợ ông T1), bà Trần Thị Hồng V (con gái), ông Trần Minh T3 (con rể -chồng bà V) và bà Trần Thị Thu N (con gái), ông Nguyễn Hữu N1 (con rể -chồng bà N) được thừa hưởng diện tích: 5m x 32m = 160m2, giới cận: Đông giáp Phạm Thị T4, T5 giáp Trần Thị Hồng V; Nam giáp đường bê tông; Bắc giáp Trần Tung. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa triệu tập bà Lê Thị T và những người anh, chị em được cho đất để làm rõ có sự việc này hay không? Hiện nay đất đã được sử dụng theo hiện trạng hay chưa? Tòa án cấp sơ thẩm xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H nhưng không cung cấp thông tin về thửa đất, tờ bản đồ thể hiện trong biên bản họp Gia đình ngày 24/4/2012 nên nội dung văn bản số 434/UBND ngày 23/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã H trả lời không xác định được thửa đất và chủ sử dụng đất là có thiếu sót.

4. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 19/2025/HNGĐ-PT ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân Tỉnh Bến Tre về việc ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung

Nội dung hủy án 

Đối với số tiền 1.250.000.000 đồng, anh T cho rằng thực tế là số tiền vay do Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Chi nhánh Bến Tre -Phòng giao dịch N) giải ngân chị X nhận và quản lý luôn nên đây là tài sản chung của vợ chồng, anh T yêu cầu nhận 1/2 số tiền này là 625.000.000 đồng. Xét  thấy,  tại  phiên  tòa  phúc  thẩm,  anh T thay đổi  nội  dung kháng cáo yêu cầu hủy một phần bản án sơ thẩm và có cung cấp bản tự khai của ông Nguyễn Văn Việt T, theo đó ông T trình bày ông được chị X nhờ ông đứng ra nhận tiền cho một khoản vay của chị X tại Ngân hàng và ông được giải ngân số tiền 1.250.000.000 đồng  với  mục đích thanh toán tiền  mua  thức ăn gia súc nhưng thực tế vào thời điểm này vợ chồng anh T, chị X không có khoản nợ tiền hàng nào đối  với  khoản  tiền này và sau đó ông đã rút toàn bộ số tiền này đưa tiền mặt cho chị X tại nhà ông và ông có đề nghị chị X ký xác nhận vào sổ tay riêng của ông; đồng thời, anh T còn cung cấp các chứng từ thể hiện anh là người đã trả tiền lãi đối với các khoản vay của Ngân hàng.Chị X cho rằng chị sử dụng số tiền này để trả các khoản  nợ còn  tồn trong năm của vợ chồng. Như vậy,  tại phiên tòa phúc thẩm có phát sinh tình tiết mới cần phải thu thập thêm các tài liệu, chứng cứ để xác định số tiền 1.250.000.000 đồng thực tế có được sử dụng để trả vào các khoản nợ chung của chị X, anh Thay không, từ đó mới có cơ sở chấp nhận hoặc bác yêu cầu của anh T, đồng thời phía anh T cũng có yêu cầu chị X phải hoàn trả số tiền lãi mà anh T đã trả cho Ngân hàng theo các  chứng từ mà anh T cung cấp nhưng trong giai đoạn sơ thẩm anh T chưa yêu cầu, đồngthời số tiền lãi này có liên quan đến  số tiền 1.250.000.000 đồng nên Hội đồng  xét  xử không thể xem xét, giải quyết. Ngoài ra, để làm rõ tình tiết vụ án liên quan đến số tiền 1.250.000.000 đồng cần đưa ông Nguyễn Văn Việt T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết hủy một phần bản án sơ thẩm liên quan đến nội dung này để Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết lại theo thủ tục chung. Kháng cáo của anh T có căn cứ một phần nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

5. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 490/2019/HNGĐ-PT ngày 25/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp ly hôn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nội dung hủy án 

(i) Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA092186, số vào sổ cấp GCN: CH03807 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 19/6/2015 thì đất chuyển nhượng: 301,7m2 thuộc thửa đất số 691, tờ bản đồ số 33, địa chỉ ấp 3, xã C, huyện D, thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị C. Căn cứ Kết luận giám định số 57/KLGĐ-TT ngày 07/12/2015 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh thì chữ ký, chữ viết họ tên “Lê Thị C” và dòng chữ “Đã đọc và đồng ý” trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng số 004134/HĐ-CNQSDĐ ngày 07/9/2015 lập tại Văn phòng Công chứng T không phải là của bà Lê Thị C (người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng). Theo lời khai thống nhất của ông L và Văn phòng Công chứng T thì bà Lê Thị C yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà Lê Thị C có quyền sử dụng đất chuyển nhượng không phải là một người. Do đó, có căn cứ để xác định người chuyển nhượng quyền sử dụng đất (ghi tên Lê Thị C) trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải là người có quyền sử dụng đất nên hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là có căn cứ nhưng lại quyết định công nhận sự thỏa thuận của ông L và bà Lê Thị C (người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng), thỏa thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng quy định pháp luật vì bà Lê Thị C (người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng) không phải là người giao kết hợp đồng (bên chuyển nhượng) nên không có quyền thỏa thuận hủy hợp đồng.

(ii) Tại Khoản 3, Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 004134 ngày 07/9/2015, các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng), việc giao và nhận số tiền nêu trên do hai bên thực hiện ngoài sự chứng kiến của công chứng viên và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ông L khai bà C đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông nhưng chưa giao đất và Ông đã giao 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) cho bà C nhưng không lập biên nhận giao nhận tiền. Do nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không thể hiện ông L đã giao 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) cho bà C và ông L không cung cấp đươc tài liệu, chứng cứ để chứng minh là Ông đã giao cho bà C 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) nên không có căn cứ để xác định ông L bị thiệt hại 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) do hợp đồng công chứng vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường thiết hại của ông L là không đúng với quy định tại Điều 604 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và hướng dẫn tại các Mục 1, 5, Phần I Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

(iii) Ông L không thừa nhận giữa Ông và bà C xác lập giao dịch vay tiền có bảo đảm bằng quyền sử dụng đất. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông L cho rằng Thông báo kết quả giải quyết tin báo tố giác về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố số 19 ngày 10/02/2016 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện D không chính xác, nên cần phải thu thập Đơn tố cáo của ông L gửi cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện D ngày 21/10/2015 để kiểm tra nội dung đơn. Đồng thời, Giấy giao nhận tiền do ông L cung cấp không có công chứng, chứng thực chữ ký của bà C và theo lời khai của ông L thì người làm chứng trong giấy giao nhận tiền là ông Nguyễn Ngọc Hồ đã chết nên cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tính xác thực của giấy giao nhận tiền nêu trên. Mặt khác, để có cơ sở xác định công chứng viên có thực hiện đúng quy định của pháp luật trong việc chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L và bà Lê Thị C không thì cần phải thu thập tài liệu nhân thân của bà Lê Thị C trong hồ sơ công chứng (chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy xác nhận độc thân …) và xác minh tính xác thực, hợp pháp của các tài liệu trên. Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ nêu trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được nên phải hủy phần án sơ thẩm giải quyết yêu cầu độc lập của ông L để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

(iv) Ngoài ra, căn cứ Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Luật sư và Công chứng viên số C26/TNNN/19/04/15 ngày 09/6/2015 và Giấy chứng nhận Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Luật sư – Công chứng viên số 15/19/04/TNNN/PC00026 ngày 09/6/2015 thì Văn phòng Công chứng T có ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm công chứng viên với Công ty Bảo hiểm P và Văn phòng Công chứng T có yêu cầu Công ty Bảo hiểm P bồi thường nếu Văn phòng Công chứng T phải bồi thường cho ông L nên cần phải đưa Công ty Bảo hiểm vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

6. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 19/2025/HNGĐ-PT ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về việc tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

Nội dung sửa án 

(i) Về con chung: Ông H và bà Á có con chung là Vũ Thị Như N, sinh ngày 05/4/2002. Vì vợ chồng không thể có con chung về mặt sinh học, nên đã sử dụng thụ tinh nhân tạo tại bệnh viện (IUI) được Bệnh viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh duyệt ngày 10/7/2001. Hồ sơ khám chữa bệnh của bà Á xác nhận phương pháp hỗ trợ sinh sản. Giấy khai sinh của chị N ghi cha là Vũ Văn H, mẹ là Lê Thị Kim Á. Theo khoản 1 Điều 93, Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình, chị N sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kỳ hôn nhân vẫn là con chung của ông H và bà Á, do đó việc tòa sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 98 là chưa chính xác.

(ii) Về tài sản chung sơ thẩm đã phân chia. HĐXX Phúc thẩm xét thấy: đối với quyền sử dụng thửa đất số 323+324, tờ bản đồ số 25, diện tích 934,9m2 và tài sản đã xây dựng trên đất tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương: chứng cứ thu thập thể hiện, tài sản này được vợ chồng tạo lập, xây dựng từ sau khi kết hôn cho đến nay, ông H không có cung cấp được chứng cứ xác định có công sức đóng góp nhiều hơn bà Á. Do vậy cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung, có công sức đóng góp ngang nhau là có cơ sở, không chấp nhận kháng cáo của ông H đối với tài sản này. Đối với Thửa đất D11, tờ bản đồ số QHBX-SD 304 tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Do ông H công tác trong quân ngũ nên mới được cấp đất theo Quyết định số 1994/QĐ-UBND ngày 21/6/2013 của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình là cán bộ, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc Quân đoàn B tại thôn N, xã T, huyện B. Vì vậy, cần đánh giá công sức đóng góp của ông H đối với thửa đất D11, tờ bản đồ số QHBX-SD 304 ở Vĩnh Phúc là 60%, của bà Á là 40% mới là phù hợp, đảm bảo sự công bằng.

(iii) Như đã nhận định trên thì tổng giá trị thửa đất số 323+324, tờ bản đồ số 25 tại H, T, T, Hải Dương và các tài sản trên đất là: 3.957.028.000đồng. Ông H và bà Á mỗi người được hưởng 50% giá trị tài sản là: 1.978.514.000 đồng. Tổng giá trị thửa đất D11, tờ bản đồ số QHBX-SD 304 ở Vĩnh Phúc là: 530.000.000đ. Ông được hưởng 530.000.000 đồng x 60% = 318.000.000 đồng. Bà Á được hưởng: 530.000.000 đồng x 40% = 212.000.000 đồng. Đối với 2,5 m2 diện tích đất dôi dư, UBND không đề nghị giải quyết trong vụ án này. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Như vậy tổng giá trị tài sản ông H được chia 2.296.514.000 đồng. Bà Á là 2.190.514.000 đồng. Tổng tài sản bà Á được nhận trên thực tế có giá trị thành tiền là 2.244.135.900 đồng. Tổng tài sản ông H được nhận trên thực tế có giá trị thành tiền là 2.242.871.000 đồng. Vì vậy, bà Á phải trả giá trị chênh lệch cho ông H là 53.621.000 đồng.

7. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 39/2025/HNGĐ-PT ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Nội dung sửa án 

(i) Tại giai đoạn sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xác định Ngân hàng C1 - Chi nhánh tỉnh V, Phòng giao dịch huyện T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định. Do đó, cấp phúc thẩm xác định lại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C1 theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc xác định đương sự trong vụ án.

(ii) Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ như sau:

“1. Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đìnhđược lậpthành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.”

Trong vụ án này, ông H không có văn bản nhập thửa đất nêu trên vào tài sản chung của vợ chồng và ông cũng không thừa nhận có việc nhập thửa đất vào tài sản chung của vợ chồng nên cấp sơ thẩm nhận định đây là tài sản chung để chấp nhận yêu cầu chia 1½ giá trị cho bà Ú số tiền là 36.087.000 đồng (72.174.000 đồng: 2) là không có cơ sở, không phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H đối với phần này.

8. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 32/2025/HNGĐ-PT ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung

Nội dung sửa án 

(i) Các bên đều thống nguồn gốc 05 thửa đất là của bà P, mẹ ruột bà Bích T cho, hợp đồng tặng cho và giấy chứng nhận QSDĐ cấp tên bà B. Các thửa đất được tặng cho vào năm 2007, các bên cùng canh tác lúa và phục vụ nhu cầu trong gia đình từ năm 2007 đến thời điểm tranh chấp tháng 4 năm 2022 là 15 năm, trong thời gian này các bên hoàn toàn không ý kiến gì tài sản riêng hay chung. Các bên đã cùng sử dụng tài sản này để đáp ứng nhu cầu cho gia đình nên vẫn có căn cứ xác định đây là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 33 và Điều 38 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tài sản trong thời kỳ hôn nhân bao gồm tài sản chung (như thu nhập, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ lao động, sản xuất, kinh doanh; tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung) và tài sản riêng (như tài sản có trước hôn nhân, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng). Tuy nhiên, nguồn gốc tài sản có từ bà P là mẹ ruột bà B nên cần xem xét chia cho bà B nhiều hơn. Tổng diện tích 05 thửa đất 8.331m2. Chia cho ông N 30% tương đương diện tích 2.499,3m2, bà B được nhận 70% tương đương diện tích 5.831,7m2.

(ii) So với diện tích được chia ông N còn thiếu 121,45m2, bà B nhận diện tích nhiều hơn 121,45m2 nên buộc bà B hoàn trả giá trị cho ông N. Căn cứ theo biên bản định giá ngày 14 tháng 10 năm 2022, Hội đồng định giá theo Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá tài sản số 02/2022/QĐ-ĐG, ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, đơn giá 50.000 đồng/1m2 và áp dụng đơn giá này để tính án phí cho ông N và bà B trên phần sản được chia. Như vậy, bà B có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho ông N là 121,45m2 x 50.000 đồng = 6.072.500 (sáu triệu không trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm) đồng.

(iii) Đối với tài sản trên đất là nhà và cây trồng trên thửa đất số 3429, 3420 ông N và bà B không tranh chấp, ông N đồng ý giao cho bà B. Sự tự nguyện của ông N phù hợp với quy định pháp luật nên cần giao thửa đất số 3429 và 3420 cùng toàn bộ tài sản trên đất cho bà B được toàn quyền định đoạt.

9. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 24/2025/HNGĐ-PT ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn, đòi lại tài sản

Nội dung sửa án 

(i) Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát khu vực 1) kháng nghị yêu cầu bổ sung thêm mối quan hệ pháp luật tranh chấp là phù hợp nên cần bổ sung thêm quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án: Tranh chấp về ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn và đòi lại tài sản.

(ii) Đối với biên nhận trang sau 1.300.000.000 đồng ngày 25/5 theo kết luận số 415.KJL-KTHS ngày 28/7/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ chí Minh kết luận tại vị trí số “2” hàng đơn vị dãy số “2022” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A là số “0” được sửa chữa thành số “2”, (số B bị sửa chữa thành số 2022) và không đủ cơ sở kết luận số “2” hàng đơn vị trong dãy số “2022" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết dùng làm mẫu so sách đứng tên Phan Thị H, trên các tài liệu ký tự M1 đến M5 là có phải do cùng một người viết ra hay không; đồng thời biên nhận không ghi nhận tiền của ai, không thỏa thuận lãi suất và thời gian vay, chị H không thừa nhận vay của anh Đ số tiền 1.300.000.000 đồng, biên nhận có chỉnh sửa, bôi xóa, biên nhận do anh Đ cất giữ và giao nộp cho Tòa án có sửa chữa; năm 2020 anh Đ chị H chưa biết nhau, anh Đ và chị H quen biết năm 2022 và đăng ký kết hôn vào năm 2022 nên số tiền nhận vào năm 2020 là không có xảy ra trên thực tế, kháng cáo của chị H là có căn cứ.

(iii) Đối với số tiền vay theo hợp đồng số HDDTD 85320200124 ngày 13/7/2022 anh Đ chị H ký kết vay với Ngân hàng TMCP B1 – chi nhánh V mục đích vay bổ sung vốn lưu động, kinh doanh, mua bán nệm, giường, tủ gỗ.... số tiền vay gốc 3.700.000.000 đồng; anh Đ chị Hòa kết H3 vào ngày 20/6/2022 số nợ vay ngân hàng ngày 13/7/2022 là nợ trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm buộc chị H trả cho anh Đ số tiền gốc 3.700.000.000 đồng và lãi là chưa chính xác, đây là nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và mục đích vay kinh doanh mua bán nệm, giường, tủ gỗ do anh Đ là chủ cơ sở nên số nợ 3.700.000.000 đồng chị H chỉ chịu trách nhiệm ½ cụ thể: 3.700.000.000 đồng : 2 -1.850.000.000 đồng. Anh Đ chịu 1.850.000.000 đồng là phù hợp theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa anh Đ xác định nguồn tiền trả nợ 3.700.000.000 đồng là do anh Cù Phú (em anh Đ) bán căn nhà cho anh Đ mượn tiền trả nợ ngân hàng; hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Q1 với anh P ngày 19/01/2023 và ngày 02/02/2023. Thê hiện: tại câp sơ thâm anh Q1 và vợ và chị H1 có yêu cầu độc lập yêu cầu anh Đ và chị H trả cho anh Q1 sô tiên 3.700.000.000 đồng mà anh Đ mượn của anh Q1 trả cho Ngân hàng, sau đó rút đơn yêu cầu cấp sơ thẩm đình chỉ; số tiền này anh Q1 cho anh Đ, chị H mượn trong thời kỳ hôn nhân nên anh Q1, chị HI mới có quyền khởi kiện yêu cầu trả nhưng cấp sơ thâm buộc chị H trả cho anh Đ là không đúng đối tượng nên kháng cáo của chị H là có căn cứ. Như nhận định trên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và chấp nhận một phần kháng cáo của chị Phan Thị H.

10. Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân tỉnh Cao Bằng về việc ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn

Nội dung sửa án 

Hội đồng xét xử xét thấy: Hai bên đương sự xác nhận có ba con chung là cháu Nông Thị N, sinh ngày 01/3/2006, Nông Thị Ánh N1, sinh ngày 06/12/2010 và cháu Nông Việt H, sinh ngày 15/01/2020. Hiện nay các cháu đang sống cùng với chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các con chưa thành niên và không yêu cầu anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của chị T cũng là nguyện vọng của con chưa thành niên khi được tòa án cấp sơ thẩm tiến hành lấy ý kiến về tâm tư nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn. Trên thực tế hiện nay các cháu đều do chị T chăm sóc, điều này được thể hiện qua Biên bản xác minh của Tòa án ngày 07/3/2025 xác minh với trưởng xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Do đó Toà án cấp sơ thẩm xác định phần nội dung về con chung chưa thành niên là cháu Nông Thị Ánh N1, sinh ngày 06/12/2010 và cháu Nông Việt H, sinh ngày 15/01/2020 giao cho chị T chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Tuy nhiên thực tế điều kiện về nhà ở, thu nhập của chị T hiện nay không đảm bảo để cùng lúc nuôi cả hai cháu. Nhà ở là lản có diện tích chỉ đủ để làm giường và bếp, được xây trên phần đất của họ hàng nhà chị T. Thu nhập của chị T còn thấp và không ổn định. Do đó để đảm bảo sự phát triển của cháu H, xét thấy việc giao cháu H cho anh B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là cần thiết.