MỤC LỤC

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 87/2025/HS-PT ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 26/2024/HS-PT ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử về các tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối các với bị cáo Nguyễn Duy N và các đồng phạm do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của các bị cáo

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 21/2023/HS-PT ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Phương Văn T do có kháng nghị của Viện kiểm sát

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 81/2022/HS-PT ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử về các tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Thân Quyết T, Tô Hoài D và Nguyễn Thị Ngọc N do có kháng cáo của các bị cáo

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 124/2025/HS-PT ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Phạm Văn C do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 49/2025/HS-PT ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Q

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Huỳnh Tấn T, Nguyễn Duy P và Nguyễn Đình L do có kháng cáo của các bị cáo

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2024/HS-PT ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Cẩm H do có kháng nghị của Viện kiểm sát

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 54/2024/HS-PT ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Thị V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 87/2025/HS-PT ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T

Nội dung hủy án:

Xét hành vi của bị cáo Trần Văn T bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã chỉ ra những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và quyết định hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Yên Dũng (nay là thành phố B), chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để điều tra lại, tuy nhiên đến nay, Cơ quan điều tra vẫn chưa làm rõ. Cụ thể:

(i) Việc Trần Văn T đến làm việc tại quán K3: T và T7 đều khai Thăng đến làm từ ngày 13/10/2021, thoả thuận bằng miệng và không có hợp đồng. T khai được T7 thuê làm phục vụ dọn dẹp quán theo sự điều hành của D, T7 và thời gian T làm việc thì D đều có mặt tại quán. T7 khai thuê T làm quản lý. D không thừa nhận lời khai của T nhưng thừa nhận có hình ảnh của mình tại Video thu giữ tại quán K3..Dữ liệu video từ 18h ngày 15/10/2021 đến 5h59p ngày 16/10/2021 có ghi nhận hình ảnh, việc làm của D, chị T7, T....Khi điều tra lại, Cơ quan điều tra vẫn không trích xuất dữ liệu Camera của quán K3 các ngày trước đó còn lưu trong đầu thu để làm rõ, đánh giá lời khai T7, D, T, để xác định nhiệm vụ, công việc của T được Luyện Thị T7 hay Hoàng Hữu D giao như thế nào. Khi làm việc tại quán K3, Trần Văn T có được tự ý đứng ra tiếp nhận khách đến thuê phòng, thuê dịch vụ chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hay không hay đóng vai trò gì đối với việc để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên.

(ii) Trong quá trình điều tra chưa làm rõ ai là người đã trang bị đèn led, loa đài phòng sập tầng 4 để các đối tượng sử dụng ma túy. Quán K3 có Giấy đăng ký hoạt động kinh doanh đứng tên ông Triệu Văn N. Tại hồ sơ và phiên toà, chị T7 khai thuê lại quán K5 của anh Hoàng Tiến M để kinh doanh, có Hợp đồng thuê nhà ký ngày 07/8/2021 (BL158), không đầu tư, trang bị gì thêm. Tại Biên bản làm việc ngày 04/5/2022 (BL159) anh Hoàng Tiến M khai không lắp các thiết bị âm thanh, đèn chiếu, đèn lead tại Phòng tầng 4. Hồ sơ chưa có lời khai của ông Triệu Văn N. Như vậy, Cơ quan điều tra chưa làm rõ để xem xét, đánh giá ai mới là người đã xây dựng, tạo lập phòng sập có các chức năng nghe nhạc, nghỉ ngơi cho người sử dụng ma túy (thu hút khách sử dụng ma tuý đến thuê phòng) cũng như việc chứng minh hành vi của bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì vai trò của bị cáo T trong vụ án này như thế nào.

(iii) Chưa làm rõ căn cứ xác định T có mặt khi nhóm khách trong phòng sử dụng ma tuý. Việc trích xuất hình ảnh dữ liệu camera liên quan đến bị cáo T, đến Hoàng Hữu D và những người có liên quan đến sự việc còn chưa đầy đủ; Chưa làm rõ việc khi kiểm tra T có mặt trong phòng các đối tượng sử dụng ma túy hay không?

(iv) Tại các video trích xuất từ camera của quán K5 thể hiện: Hoàng Hữu D có mặt tại quán từ lúc 18 giờ ngày 15/10/2021 đến 01 giờ 16 phút ngày 16/10/2021 tại quầy tầng 1; Luyện Thị T7 là chủ quán, có mặt tại thời điểm quán được kiểm tra (từ 1 giờ 33p) nhưng khi lập biên bản kiểm tra lại không thể hiện có mặt Hoàng Hữu D, Luyện Thị T7.

(v) Cơ quan điều tra chưa thu thập dữ liệu Camera của quán K3 các ngày trước đó còn lưu trong đầu thu theo quy định tại Điều 102 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự.

(vi) Việc hoạt động tại quán K3 theo bị cáo T khai được vợ chồng chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D lập nhóm Z có đưa bị cáo vào nhóm nên tất cả công việc hoạt động, điều hành, quản lý của quán đều được thực hiện trên Zalo nhưng Cơ quan điều tra làm rõ, không thu giữ điện thoại của T7, của D. Khi thu giữ điện thoại của bị cáo Trần Văn T cơ quan điều tra không tiến hành kiểm tra, thu thập để làm rõ hoạt động, quản lý của quán, trên cơ sở đó để làm rõ hành vi của T7, D và T.

(vii) Căn cứ Điều 3 Thông tư 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP ngày 14 tháng 11 năm 2015 của Bộ C4, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần làm rõ hành vi của chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D và Trần Văn T có dấu hiệu phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” hay không, hay các đối tượng này đóng vai trò gì đối với hành vi để cho nhóm của Trần Tuấn A, Nguyễn Văn T5 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên nhằm xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự.

(viii) Bản án huỷ yêu cầu điều tra lại để làm việc, tiến hành tố tụng đối với Hoàng Hữu D và Luyện Thị T7. Quá trình điều tra lại, Cơ quan điều tra chỉ xác định

D và T7 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm T8 và D đều có mặt tại phiên toà. Từ trích xuất camera xác định D nhiều lần đứng tại quầy lễ tân để thực hiện công việc của một nhân viên của quán chứ không phải đến chơi như D khai? Nội dung này chưa được Cơ quan điều tra xác minh làm rõ.

(ix) Tại phiên tòa phúc thẩm, khi thực hiện tranh tụng, Hội đồng xét xử trình chiếu chứng cứ dữ liệu điện tử là video trích xuất camera của quán K3 được lưu trữ trong USB trong hồ sơ vụ án cho thấy:

Khi Tổ công tác vào kiểm tra quán K3 trên mặt quầy thu ngân có 02 tập giấy để ghi chép. Bị cáo T xác định đó là 02 tập hoá đơn thường xuyên đặt trên mặt bàn quầy thu ngân của quán K3 và anh D là người ghi chép, quản lý tập hoá đơn này.

Trong video CAM 3 ghi nhận: có hình ảnh anh Hoàng Hữu D tính, ghi chép vào tập hoá đơn đặt trên mặt quầy thu ngân của quán K3 vào thời gian 22 giờ 59p ngày 15/10/2021và 0 giờ 57 đến 01 giờ 08p ngày 16/10/2021.

Dữ liệu video ghi nhận từ 1 giờ 33p chị T7 có mặt tại quán K3, trực tiếp lấy Giấy đăng ký hoạt động của quán K3 cất dưới tủ bàn quầy thu ngân để xuất trình cho đại diện Tổ công tác, tham gia làm việc với đại diện Tổ công tác nhưng các Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT, Biên bản kiểm tra hành chính phòng tầng 3, tầng 4 do Phòng CSQLHC về TTXH lập lại không có chữ ký nhận của bà Luyện Thị T7 là chủ cơ sở.

Video CAM 3 ghi nhận 02 tập hoá đơn được đặt tại mặt bản quầy thu ngân của quán K3 cùng với Giấy đăng ký hoạt động của quán và nhiều thành viên Tổ công tác lật kiểm tra, chụp ảnh lại 2 tập hoá đơn này (vào thời điểm 1h20p, 1h24p - 1h29p, 1h34p ...đến 5h59p). Tuy nhiên, tại các Biên bản kiểm tra hành chính (BL97); Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh (BL96), niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL106), Biên bản thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu của vụ án không thấy nhắc đến tài liệu (02 tập hoá đơn này) này.

Như vậy, theo dữ liệu trích xuất camera của quán K3 đã trình chiếu công khai tại phiên toà, cho thấy khi kiểm tra, Tổ công tác đã làm việc với Trần Văn T phát hiện và kiểm tra, chụp ảnh lại 02 tập hoá đơn và làm việc với chủ quán Luyện Thị T7 để yêu cầu xuất trình và kiểm tra giấy đăng ký hoạt động kinh doanh của quán K3 nhưng 2 tập hoá đơn chưa được thu thập để xem xét, đánh giá nhằm làm rõ ai là người quản lý hoạt động của quán K3, làm rõ sự liên quan của chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D trong vụ án.

(x) Hành vi của Luyện Thị T7, Hoàng Hữu D có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T nên Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra nhiều lần yêu cầu làm rõ hành vi của T7, D có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 Bộ luật hình sự nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay thành phố B) giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T và Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử nên Toà án cấp sơ thẩm không có lỗi.

(xi) Như vậy, những nội dung đã được chỉ rõ tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang nhưng sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định hủy một phần bản án sơ thẩm: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Yên Dũng, trả hồ sơ để cho chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để điều tra lại, tuy nhiên đến nay vẫn chưa tiến hành điều tra làm rõ lại các tình tiết đã được bản án chỉ ra và có những tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm liên quan đến việc việc xác định sự thật khách quan của vụ án mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 26/2024/HS-PT ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử về các tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối các với bị cáo Nguyễn Duy N và các đồng phạm do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của các bị cáo

Nội dung hủy án 

(i) Đồng thời, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở phòng 603 gồm: Mai Văn T9, Huỳnh Đức T8, Ngô Duy Phước T10, Nguyễn Đức H8 cũng đồng loạt thay đổi lời khai với nội dung “Tại cuộc nhậu không ai bàn bạc về việc góp tiền mua ma túy”.

Tuy nhiên, việc đồng loạt thay đổi lời khai của Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Duy N, Nguyễn Quốc C1, Mai Văn T9, Huỳnh Đức T8, Ngô Duy Phước T10, Nguyễn Đức H8 là không khách quan, không có căn cứ, mâu thuẫn với toàn bộ nội dung lời khai mà các bị cáo Đ, N, C1 và người liên quan T9, T8, T10, H8 đã khai ban đầu. Có dấu hiệu Mai Văn T9, Huỳnh Đức T8, Ngô Duy Phước T10, Nguyễn Đức H8 đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Duy Ng Nguyễn Quốc C1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

(ii) Nguyễn Thị Hà G, Trịnh Quỳnh N5 đã tiếp nhận ý chí của bị cáo Nguyễn Quốc C1 về việc rủ thêm người cùng đi phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy ở phòng 603. Việc tiếp nhận ý chí của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Bị cáo C1) và thực hiện hành vi rủ thêm người đến sử dụng trái phép chất ma túy là một trong những hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Nguyễn Thị Hà G, Trịnh Quỳnh N5 có dấu hiệu đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng Cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ.

(iii) Đối với đối tượng Hà Kim T13 tiếp bay tại phòng 503 cũng là người gọi các nhân viên tiếp bay Đinh Thị G1, Nguyễn Thị Thu H10, Nguyễn Thị Kim T14. Đối tượng Nguyễn Thị Thu H10 là người “xào” ma túy “khay” trong dĩa sứ rồi kẻ thành đường nhỏ để cho những đối tượng khác tự lấy sử dụng, nhưng do chưa xác định thông tin, lai lịch của đối tượng T13, H10 nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý sau. Hành vi của Hà Kim T13, Nguyễn Thị Thu H10 có dấu hiệu đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra làm rõ trong quá trình điều tra lại.

(iv) Xét thấy có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm điều tra chưa đầy đủ đối với một số đối tượng trong vụ án mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Tuy nhiên, việc điều tra chưa đầy đủ đối với các đối tượng này liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ở phòng 603 và phòng 503 đối với Mai Văn T9, Huỳnh Đức T8, Ngô Duy Phước T10, Nguyễn Đức H8, Nguyễn Thị Hà G, Trịnh Quỳnh N5, Hà Kim T13, Nguyễn Thị Thu H10 không liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại phòng 502 và hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túycủa bị cáo Võ Minh N3. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số: 1230/QĐ-VKS ngày 24/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về phần tội danh, áp dụng pháp luật và phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Duy N, Nguyễn Quốc C1 và các bị cáo Trương Triều V1, Phạm Văn Đ1, Lê Bá H6, Cao Bùi Thanh K (Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở phòng 603 và phòng 503) để điều tra lại theo thủ tục chung.

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T

Nội dung hủy án 

(i) Về việc thu thập tài liệu, chứng cứ: Trong quá trình điều tra chưa thu thập sổ sách thanh toán, các cuộc gọi đến, gọi đi trong các ngày từ 13 đến ngày 16/10/2021 của quán K3, của Hoàng Hữu D và của Trần Văn T để làm rõ vị trí, vai trò của Luyện Thị T4, Hoàng Hữu D và Trần Văn T. Trên cơ sở đó để xác định ai là người quản lý các hoạt động của quán K3.

(ii) Việc Trần Văn T đến làm việc tại quán K3 các bên có giao kết hợp đồng lao động không, quyền và nghĩa vụ được xác định như thế nào. Trên cơ sở đó để xác định nhiệm vụ, công việc của T được Luyện Thị T4 hay Hoàng Hữu D giao như thế nào. Khi làm việc tại quán K3, Trần Văn T có được tự ý đứng ra tiếp nhận khách đến thuê phòng, thuê dịch vụ chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hay không hay đóng vai trò gì đối với việc để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên.

(iii) Trong quá trình điều tra chưa làm rõ ai là người đã trang bị đèn led, loa đài phòng sập để sử dụng ma túy để xem xét, đánh giá ai mới là người đã xây dựng, tạo lập phòng sập có các chức năng nghe nhạc, nghỉ ngơi cho người sử dụng ma túy (thu hút khách sử dụng ma tuý đến thuê phòng) cũng việc chứng minh hành vi của bị cáo T7 có đủ cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì vai trò của bị cáo T trong vụ án này như thế nào hay hành vi của bị cáo có dấu hiệu cấu thành tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự.

(iv) Việc các đối tượng Trần Tuấn A đến thuê phòng thông qua hình thức nào, ai tiếp nhận đặt phòng, ai thu tiền, tại thời điểm các đối tượng Trần Tuấn A đến thuê phòng có những ai có mặt; khi kiểm tra T có mặt trong phòng các đối tượng sử dụng ma túy hay không?

(v) Tại bút lục số 181 thể hiện: Hoàng Hữu D có mặt lúc 23 giờ 03’ tại quầy ba nhưng cơ quan điều tra không thu thập việc T4, D có theo dõi camera các phòng không. Đến 0 giờ 06’ D, T và Tuấn A nói chuyện nhưng khi lập biên bản kiểm tra vào hồi 1 giờ 00’ lại không thể hiện có mặt Hoàng Hữu D.

Ngoài ra trong quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm còn có vi phạm, thiếu sót sau:

(vii) Các biểm bản có việc tẩy xóa, sửa chữa: Tại biên bản kiểm tra hành chính chữa thời gian và địa điểm (bút lục số 97); các biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy, biên bản niêm phong que thử nhanh ma túy sửa chữa thời gian (bút lục số 109, 111, 113, 114, 115, 116, 117, 122) và biên bản làm việc (bút lục số 156 nhưng không thể hiện có xác nhận bằng chữ ký của những người mà họ phải ký vào biên bản theo quy định tại Điều 102 BLTTHS.

(viii) Trong quá trình kiểm tra cơ sở kinh doanh quán K3 do Luyện Thị T4 thuê của anh Hoàng Tiến M không tiến hành lập biên bản đối với Hoàng Hữu D, thu thập Camera của quán Phantom theo quy định tại Điều 102 và Điều 195 BLTTHS.

(ix) Việc hoạt động tại quán K3 theo bị cáo T khai được chị Luyện Thị T4, anh Hoàng Hữu D lập nhóm Z có đưa bị cáo vào nhóm nên tất cả công việc hoạt động, điều hành, quản lý của quán điều được thực hiện trên Zalo nhưng Cơ quan điều tra không thu giữ điện thoại của T4, của D. Thậm chí khi thu giữ điện thoại của bị cáo Trần Văn T cơ quan điều tra không tiến hành kiểm tra, thu thập để làm rõ hoạt động, quản lý của quán, trên cơ sở đó để làm rõ hành vi của T4, D và T.

(x) Hành vi của T4, D có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T nên ngày 15/10/2021, ngày 11/7/2022, ngày 29/9/2022 và ngày 15/02/2022 đã được Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra làm rõ hành vi của T4, D có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 BLHS nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T và Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 298 BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử nên Toà án cấp sơ thẩm không có lỗi.

(xi) Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, khi tạm giữ đối với Trần Văn T, Cơ quan điều tra đã không có tài liệu chứng minh việc thông báo về việc tạm giữ bị can cho gia đình theo quy định tại Điều 116 BLTTHS dẫn đến gia đình bị cáo không biết được bị cáo T đang bị tạm giữ, tạm giam nên đã có nhiều đơn phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền về sự việc nêu trên.

(xii) Trong vụ án này bị cáo Trần Văn T bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y ngay khi lập biên bản kiểm tra. Việc bị cáo viết đơn ra đầu thú nhưng không được Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định tại Điều 152 BLTTHS.

(xiii) Ngoài ra trong vụ án này chưa làm rõ hành vi của Giáp Thị X, sinh năm 1999, ở thôn T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ tài khoản có cho em chồng là Nông Thị L, sinh năm 1999, ở cùng địa chỉ mượn chứng minh thư nhân dân để mở tài khoản, hiện L đang sử dụng số tài khoản này đã thực hiện việc giao dịch chuyển tiền để mua ma tuý. Trong quá trình điều tra chưa làm rõ việc cho mượn giấy tờ để mở tài khoản X có biết không, có đồng ý không, ai là người đứng ra làm thủ tục mở tài khoản; việc chuyển tiền, việc giao dịch mua bán ma tuý trên các bên đã thực hiện như thế nào để làm rõ hành vi của X, L có dấu hiệu đồng phạm về tội tổ chức sử dụng chất ma tuý theo quy định tại Điều 255 hay không hay có dấu hiệu của tội tàng trữ, mua bán chất ma tuý theo quy định tại Điều 249, Điều 251 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

(xiv) Căn cứ Điều 3 Thông tư 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14 tháng 11 năm 2015 của Bộ C2, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần làm rõ hành vi của chị Luyện Thị T4, anh Hoàng Hữu D và Trần Văn T có dấu hiệu phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” hay không, hay các đối tượng đóng vai trò gì đối với hành vi để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên nhằm xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15 BLTTHS.

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 21/2023/HS-PT ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Phương Văn T do có kháng nghị của Viện kiểm sát

Nội dung hủy án 

Lời khai của bị cáo Phương Văn T tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà, có đủ căn cứ kết luận: Hồi 13 giờ ngày 06/6/2022, Đồn biên phòng Cửa khẩu L phối hợp với Công án xã M và Lý quốc đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Lũng Thanh thuộc xóm B đã phát hiện và bắt quả tang Mông Văn S2 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) trong người với khối lượng là 0,45g. Số ma túy này do bị cáo S2 mua với bị cáo Phương Văn T vào buổi sáng ngày 06/6/2022 với số tiền 1.200.000đ tại nhà ở của bị cáo T. Bị cáo Phương Văn T đã bị xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Trước lần bị bắt quả tang bị cáo S2 còn được mua ma túy với T 01 lần vào ngày 04/6/2022 với số tiền 200.000đ tại nhà của T. Cả 02 lần S2 và T trực tiếp sử dụng bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước tại phòng khách của nhà T. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo Phương Văn T 02 năm 6 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là đúng người, nhưng Bản án áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số 20/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng là không đúng theo quy định.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng. Bản án 20/2022/HSST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng đã bị TAND tỉnh Cao Bằng xét xử Phúc thẩm hủy bản án để điều tra xét xử lại theo thủ tục nhưng Bản án số 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xét xử và áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự và tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T là không đúng theo quy định. Do vậy, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đề nghị hủy Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng để điều tra lại đối với bị cáo Phương Văn T có căn cứ chấp nhận.

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 81/2022/HS-PT ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử về các tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Thân Quyết T, Tô Hoài D và Nguyễn Thị Ngọc N do có kháng cáo của các bị cáo

Nội dung hủy án 

Lời khai của đối tượng Nguyễn Duy L thống nhất với lời khai của Nguyễn Hữu K, thể hiện ý thức chủ quan của đối tượng ngay từ đầu đã thống nhất cùng góp chung tiền nhằm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, sẽ rủ rê thêm người để cùng đi mới vui, do đó, K đã rủ thêm N và N đồng ý. Mặc dù K là người trực tiếp trả tiền thuê phòng, loa đèn, là người bảo N liên hệ mua ma túy để cả nhóm sử dụng chung và trực tiếp trả tiền ma túy, nhưng K và L thống nhất L sẽ góp trả lại K một nửa trên tổng chi phí. Nguyễn Duy L là người đưa chứng minh nhân dân để thuê nhà nghỉ. Như vậy, Nguyễn Duy L cùng với Nguyễn Hữu K đã cùng thuê phòng 205 của nhà nghỉ 36 Hà Huy Tập để làm địa điểm sử dụng ma túy, góp tiền mua ma túy cung cấp cho Nều người cùng sử dụng và thống nhất rủ thêm Nều khác người sử dụng. Như vậy, hành vi của đối tượng Nguyễn Duy L có dấu hiệu đã đồng phạm với Nguyễn Hữu K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xét thấy có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt người phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HSST ngày 01/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi để điều tra lại theo thủ tục chung.

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 124/2025/HS-PT ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Phạm Văn C do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C

Nội dung sửa án 

(i) Tuy nhiên, xem xét về hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Phạm Văn C, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với 01 tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; gia đình bị cáo có nhiều người có công với nước. Bản thân bị cáo trong thời gian tại ngoại còn giúp cơ quan Công an phát hiện tội phạm ma túy nhưng xử phạt bị cáo 12 năm tù là quá nghiêm khắc so với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cự cải tạo.

(ii) Trong vụ án còn có bị cáo Trần Ngọc N không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo N với mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: So với bị cáo Nguyễn Thị Kim L1 – người cũng bị kết án trong vụ án này, N cũng tham gia với vai trò đồng phạm như L1 và đều không giữ vai trò chủ mưu. L1 và N bị kết án với hai tội danh khác nhau nhưng mức hình phạt của hai khung hình phạt áp dụng đối với L1 và N là như nhau (đều từ 07 năm tù đến 15 năm tù), số tình tiết giảm nhẹ mà L1 và N được hưởng là bằng nhau và cả hai đều có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu nhưng xử phạt L1 09 năm tù, xử phạt N 11 năm tù cũng là đánh giá không chính xác về tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân đối với N. Vì vậy, cấp phúc thẩm giảm hình phạt của N bằng với bị cáo L1 nhằm đảm bảo tính công bằng trong đường lối xử lý người phạm tội.

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 49/2025/HS-PT ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Q

Nội dung sửa án 

Xét kháng cáo của bị cáo, Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Ngày 31 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Xuân Q có hành vi để mặc cho Vũ Đình T và Vũ Đình T1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định, bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Hành vi để mặc cho Vũ Đình T và Vũ Đình T1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 256 BLHS, như cáo trạng của VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo về tội danh là có căn cứ. Bị cáo Q biết Vũ Đình T, Vũ Đình T1 đều nghiện ma tuý, đến nhà bị cáo chơi và sử dụng ma tuý tại nhà bị cáo. Bị cáo Q không sử dụng ma túy chung với Vũ Đình T và Vũ Đình T1, khi T và T1 sử dụng ma túy tại nhà Q thì T và T1 cũng không hỏi ý kiến của Q. Bị cáo Quảng bỏ mặc cho T và T1 sử dụng ma tuý tại nhà nhà ở của mình. Đối chiếu với qui định tại mục 7 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số qui định tại Chương VVIII các tội phạm về ma túy thì hành vi của Nguyễn Xuân Q để mặc cho 02 đối tượng sử dụng ma túy tại địa điểm do bị cáo quản lý đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Chứa chấp sử dụng trái pháp chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS.

Như vậy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh là có căn cứ chấp nhận; Bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 256 BLHS nên việc kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được chấp nhận. HĐXX quyết định sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân Q.

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Huỳnh Tấn T, Nguyễn Duy P và Nguyễn Đình L do có kháng cáo của các bị cáo

Nội dung sửa án 

(i) Ngoài ra, các bị cáo đều được cơ quan Công an có văn bản xác nhận giúp phát hiện nguồn tin về tội phạm. Trong đó, tại Công văn số 325/CQCSĐT- HS ngày 25/4/2024 bị cáo P được Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xác nhận đã giúp Công an huyện H phát hiện 04 nguồn tin về tội phạm; ngày 25/5/2024, bị cáo L được Trưởng Công an phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước xác nhận bị cáo L là người đã trình báo nhóm đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, từ đó Công an thị xã C đã khởi tố 02 vụ án đối với 07 đối tượng có hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Tại văn bản ngày 20/6/2024 và Công văn số 672/CV-CQCSSĐT ngày 18/10/2024, bị cáo T được Công an thị xã B xác nhận đã cung cấp thông tin cho Công an thị xã B bắt một đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và ngày 19/8/2024 bị cáo T lập công cung cấp thông tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B phát hiện khởi tố 05 đối tượng về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo.

(ii) Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P cung cấp thêm đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo T đang nuôi hai con còn nhỏ. Ngoài ra, bị cáo T còn tiếp tục được Cơ quan Cảnh sát điều tra có Công văn số 672/CV-CQCSSĐT ngày 18/10/2024 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đã có công trong việc phát hiện tội phạm như phân tích ở trên. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo là những người có công trong việc phát hiện tội phạm nên mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với hai bị cáo là có phần nghiêm khắc nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo P và bị cáo T. Trong đó, bị cáo T là người có nhân thân không tốt còn bị cáo P không có tiền án, tiền sự nhưng có vai trò cao trong vụ án khi là người trực tiếp liên lạc và mua ma túy cùng các đối tượng khác sử dụng nên bị cáo P cũng phải chịu hình phạt tương đương bị cáo T.

(iii) Bị cáo Nguyễn Đình L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Năm 2022, bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 45.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 51/2022/HSST ngày 22/6/2022, bị cáo đã đóng tiền phạt và án phí ngày 24/11/2022. Ngày 28/5/2023 bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm h Điều 52 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là có sai sót. Tuy nhiên, ngày 25/5/2024 bị cáo được Trưởng Công an phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước xác nhận việc trình báo nhóm đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, từ đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã khởi tố 02 vụ án, 07 đối tượng về tội mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo còn cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo để xem xét lại hình phạt đối với bị cáo.

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2024/HS-PT ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Cẩm H do có kháng nghị của Viện kiểm sát

Nội dung sửa án 

(i) Xét kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau cho rằng bị cáo Nguyễn Cẩm H không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; án sơ thẩm xử phạt H 03 năm tù là không đúng tính chất và hậu quả phạm tội; đề nghị xử phạt H điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Thấy rằng, quá trình điều tra xác định H chỉ là người cung cấp địa điểm, loa, đèn phục vụ cho việc sử dụng ma túy của T tổng cộng 02 lần ngày 11/5/2023 và ngày 01/6/2023 (ma túy là của T, H không cung cấp ma túy cho T). Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với bị cáo H về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố, và bị cáo khai nhận hành vi bị cáo là sai, nhưng bị cáo không biết T thuê phòng 02 lần để sử dụng ma túy; bị cáo cho rằng chỉ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Điều đó, cho thấy tại cấp sơ thẩm bị cáo H có khai báo, nhưng thái độ chưa thành khẩn. Tuy nhiên, án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 54, điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm tù là không đúng (vì bị cáo H chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên pháp luật không quy định được hạ khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự).

(ii) Án sơ thẩm cũng nhận định: Theo Thông tư liên tịch số: 02/2000/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ C1 "Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội", thì Toà án vẫn có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định khi có 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên mà trong đó chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 hoặc khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (văn bản này đã hết hiệu lực thi hành). Đồng thời, án sơ thẩm cũng nhận định bị cáo có nhiều con nhỏ là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Nghị quyết đang Dự thảo), điều này là không có trên thực tế (quy định này đang Dự thảo là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) chưa được thông qua và chưa có hiệu lực thi hành. Ngoài ra, án sơ thẩm cũng nhận định áp dụng chính sách hình sự nhân đạo, nên quyết định hạ khung (áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, tất cả các nhận định của án sơ thẩm dẫn đến áp dụng tinh thần các văn bản không có giá trị pháp lý nêu trên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là không đúng quy định về quyết định dưới khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự như đã nhận định tại mục [2].

(iii) Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận do cần tiền nuôi con nhỏ, dù biết T thuê phòng để sử dụng ma túy, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nay bị cáo rất ăn năn cho hành vi phạm tội của bị cáo; án sơ thẩm xét xử đối với vị cáo là đúng người đúng tội, không oan; bị cáo chỉ xin xét xử bị cáo với mức án thấp nhất. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội là phù hợp.

Do án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật; xét Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự, áp dụng khung hình phạt tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù là phù hợp, nên chấp nhận.

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 54/2024/HS-PT ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Thị V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V

Nội dung sửa án 

(i) Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị V đã cung cấp địa điểm, các công cụ, phương tiện để cho các đối tượng tổ chức và sử dụng trái phép chất ma túy là đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Đình T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị V về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác. Tuy nhiên tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự đều có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù là ngang nhau nên cấp phúc thẩm giữ nguyên tội danh đối với bị cáo Nguyễn Thị V song cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

(ii) Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V xin giảm nhẹ hình phạt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại Nguyễn Văn H là liệt sĩ, có bố chồng Nguyễn Văn M là thương binh, có bác ruột Nguyễn Đình T là liệt sĩ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự song đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 07 năm 03 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; bản thân có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, duy nhất trong gia đình; bố mẹ già, yếu, chồng đi lao động xa nhà, hai con còn nhỏ; bị cáo hiện mắc nhiều bệnh tật. Do vậy nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm hòa nhập với gia đình và xã hội thành công dân có ích cho xã hội.