MỤC LỤC

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 967/2024/HS-PT ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Tô Thanh T và Phùng Nhật D do có kháng cáo của các bị cáo Tô Thanh T và Phùng Nhật D

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2025/HS-PT ngày 22/7/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Đức T do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Đức T

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 448/2025/HS-PT ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Lương Thành H1 do có kháng cáo của bị cáo Lương Thành H1

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 336/2025/HS-PT ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Nguyễn Chí M do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí M

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 273/2025/HS-PT ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Nguyễn Văn Hoàng V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Hoàng V

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 221/2025/HS-PT ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Hồ Văn V do có kháng cáo của bị cáo Hồ Văn V

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 332/2025/HS-PT ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Phạm Minh T và Đỗ Thị Trà M do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Minh T và Đỗ Thị Trà M

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 195/2025/HS-PT ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Lê Thị Lệ Q và Trương Thị Mỹ P do có kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Lệ Q và Trương Thị Mỹ P

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 883/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Nam do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Nam

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 14/2022/HS-PT ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Dương Xuân K và Triệu Văn N do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của các bị cáo

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 967/2024/HS-PT ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Tô Thanh T và Phùng Nhật D do có kháng cáo của các bị cáo Tô Thanh T và Phùng Nhật D

Nội dung hủy án:

(i) Mặc dù khối lượng ma túy bị cáo D bị bắt quả tang khi đang nhận từ nhân viên giao hàng không liên quan đến khối lượng ma túy thu giữ tại căn hộ bị cáo T, cũng như không liên quan đến khối lượng ma túy trong gói “COFEE BREAK”, tuy nhiên cần xem xét làm rõ bị cáo D có tham gia việc mua bán trái phép chất ma túy cùng với bị cáo T và đối tượng tên K hay không? Cần trích xuất camera tại các khu vực liên quan; mở khóa mật khẩu điện thoại của bị cáo D, trích xuất nội dung tin nhắn, nội dung trao đổi giữa bị cáo D và bị cáo T trước và tại thời điểm bị cáo D đến căn hộ của bị cáo T vào ngày 12/5/2022, ngày 13/5/2022 để làm rõ có phải bị cáo D mang theo 02 gói “COFEE BREAK” khi đến căn hộ của bị cáo T hay không; làm rõ bị cáo D có nhắn tin, liên lạc với đối tượng tên K hay không, nếu có thì nội dung trao đổi là gì, bị cáo D có mua ma túy của K (để tự sử dụng, tự bán lẻ) hoặc bị cáo D có bàn bạc, thỏa thuận với bị cáo T và đối tượng tên K về việc nhận, cất giữ ma túy để bán lại cùng với K hay không, bị cáo D có tham gia cùng nhóm, đường dây mua bán trái phép chất ma túy với bị cáo T, K hay không, bị cáo D có ăn chia tiền, ma túy hay lợi ích nào khác với bị cáo T và K hay không?

Từ đó làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo D vào ngày 13/5/2020 là nảy sinh bất chợt khi bị cáo D đang ở căn hộ của bị cáo T chơi thì bị cáo T rủ bị cáo D xuống sảnh chung cư phụ bị cáo T nhận hàng; hay bị cáo D cùng tham gia, có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T và đối tượng tên K?

(ii) Tuy bị cáo D bị bắt quả tang khi đang nhận ma túy có khối lượng lớn nhưng cần làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo D là chỉ mang tính nhất thời, bột phát, xảy ra trong một thời gian rất ngắn ngay khi được T nhờ khiêng thùng hàng, không được hứa hẹn hoặc hưởng lợi gì; hay là sự có sự bàn bạc từ trước, có hưởng lợi, có tham gia trong cùng nhóm, đường dây mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T và đối tượng tên K, để từ đó có căn cứ xem xét mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo D, nhằm bảo đảm tính công bằng, phân hóa trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong cùng vụ án.

(iii) Quá trình điều tra, bị cáo T khai đối tượng tên K sử dụng số điện thoại 0906743869. Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Công ty D3 đề nghị xác minh thông tin chủ thuê bao nhưng đến thời điểm kết thúc điều tra vẫn chưa nhận được kết quả trả lời.

Hội đồng xét xử xét thấy khối lượng ma túy thu giữ trong vụ là đặc biệt lớn, cần tiếp tục điều tra làm rõ nhân thân của đối tượng tên K để tránh bỏ lọt tội phạm, làm rõ vai trò của bị cáo D liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của K.

Cần làm rõ cách thức K gửi số điện thoại liên lạc của bị cáo T cho đơn vị dịch vụ vận chuyển, nhân viên giao hàng, các thông tin tên, số điện thoại, địa chỉ K sử dụng khi liên hệ với người giao hàng, đơn vị vận chuyển trong các lần bị cáo T nhận hàng giùm K; bị cáo T còn khai K liên lạc với bị cáo T qua ứng dụng Telegram, Z (bị cáo T không nhớ tài khoản của K) nên cũng cần làm rõ tài khoản của K, thông tin tài khoản, trích xuất nội dung tin nhắn giữa K với bị cáo T; xác định thời điểm K đến căn hộ của bị cáo T và trích xuất hình ảnh camera trong khu vực, lấy lời khai để làm rõ lai lịch của K. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T khai T biết vợ của K tên “Chum” và T đã gặp C 02 lần ở quán ăn tại đường S, ngoài ra T quen K qua lần đi chơi với “P”, do đó cần làm rõ nhân thân, lai lịch, lấy lời khai của người tên “Chum”, “P” để làm rõ lai lịch đối tượng tên K.

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2025/HS-PT ngày 22/7/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Đức T do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Đức T

Nội dung sửa án 

Do khối lượng chất ma túy được xác định để quyết định hình phạt, thấp hơn khối lượng chất ma túy thấp nhất quy định tại Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự ngày 25/6/2025 của Quốc hội. Nên hành vi của các bị cáo vi phạm tình tiết định khung theo Điểm h Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự được sửa đổi năm 2025, có khung hình phạt cao nhất là tù Chung thân. Do vậy, mặc dù hành vi phạm tội của các bị cáo xảy ra trước ngày 01/7/2025, đến nay mới xét xử phúc thẩm, nên cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo, cần chấp nhận kháng cáo và sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt xuống mức cao nhất của khung hình phạt tại Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự được sửa đổi năm 2025, đồng thời áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt với bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các bị cáo đang thi hành theo quy định.

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 448/2025/HS-PT ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Lương Thành H1 do có kháng cáo của bị cáo Lương Thành H1

Nội dung sửa án 

Theo tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Toa án nhân dân tối cao, thì với khối lượng 140,916 gam loại Methamphetamine (chưa quá 300g) mà Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo H mức hình phạt tù chung thân là quá nghiêm khắc. Bởi lẽ: bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính trong gia đình phải nuôi 04 con còn nhỏ (vợ bị cáo mới sinh song sinh); gia đình bị cáo có công với Cách mạng, cha ruột là bộ đội phục viên, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 336/2025/HS-PT ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Nguyễn Chí M do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí M

Nội dung sửa án 

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, mức độ đồng phạm không cao, trong đó bị cáo Lê Văn D là người thực hành tích cực theo sự chỉ đạo của đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch); chủ động chuẩn bị phương tiện di chuyển; lên kế hoạch; nhận ma túy và liên lạc trao đổi với người mua để giao ma túy. Bị cáo Nguyễn Chí M ban đầu chỉ cùng D đến thành phố Đà Nẵng để đi chơi, không biết mục đích của D là để bán ma túy; không biết việc D liên lạc trao đổi với đối tượng tên T2; suốt quá trình đi cùng D cả hai không bàn bạc, trao đổi gì với nhau về việc mua bán ma túy; không cùng tham gia trao đổi về thời điểm giao nhận ma túy với D và các đối tượng N, M (chưa rõ nhân thân lai lịch) tại quán N1; nhưng khi được bị cáo D nhờ M đã giúp sức cho D mang ma túy để vào điểm hẹn nhưng việc mua bán cũng chưa thực hiện được. Bị cáo M phạm tội do cả nể, không nhằm hưởng lợi gì từ hoạt động mua bán ma túy, vai trò của bị cáo tham gia giúp sức nhưng mức độ không cao, vai trò đồng phạm mờ nhạt.

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự quá trình điều tra đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Chí M trước khi phạm tội là viên chức tại Trung tâm Văn hóa thể thao và Thông tin huyện M, tham gia lực lượng Dân quân cơ động, có nhiều thành tích trong công tác, trong phong trào thanh niên và hoạt động thiện nguyện tại địa phương, được các cơ quan có thẩm quyền tặng thưởng nhiều giấy khen xuất sắc; gia đình bị cáo có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều bằng khen, huân huy chương nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá các yếu tố nêu trên để quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Chí M đã tích cực tác động gia đình nộp xong toàn bộ tiền phạt 10.000.00 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (theo biên lai thu số 0000950 ngày 09/6/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng) và xuất trình thêm tài liệu về việc gia đình có công với cách mạng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, do đó cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trên cơ sở các nội dung trên và xét thấy tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí M thể hiện rõ sự ăn năn hối cải, có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, xét bị cáo phạm tội lần đầu, chỉ là người giúp sức có vai trò giản đơn trong vụ án, trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị cáo phạm tội nên cần xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để cho bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 273/2025/HS-PT ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Nguyễn Văn Hoàng V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Hoàng V

Nội dung sửa án 

Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo V cũng như lời bào chữa của Luật sư; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giảm cho bị cáo V một phần hình phạt.

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 221/2025/HS-PT ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Hồ Văn V do có kháng cáo của bị cáo Hồ Văn V

Nội dung sửa án 

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, gia đình bị cáo cung cấp chứng cứ mới là Biên lai thu tiền số 0000745 ngày 10/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng với số tiền 10.500.000đ (gồm tiền phạt bổ sung 10.000.000đ; tiền truy thu 300.000đ và tiền án phí HSST 200.000đ); Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn của vợ bị cáo; Giấy chứng tử thể hiện bố bị cáo chết trước ngày xét xử sơ thẩm; mẹ bị cáo bị bệnh (có bệnh án kèm theo). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Hơn nữa, khối lượng ma túy mà bị cáo Hồ Văn V mua bán trái phép là 46,818 gam loại Methamphetamine là trên mức khởi điểm quy định của khung hình phạt bị xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử nhận chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Văn V, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 332/2025/HS-PT ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Phạm Minh T và Đỗ Thị Trà M do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Minh T và Đỗ Thị Trà M

Nội dung sửa án 

Việc đánh giá về hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết nêu trên đối với bị cáo Đỗ Thị Trà M là phù hợp nhưng chưa đầy đủ, bởi vì: Tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm có áp dụng các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự nhưng tại phần nhận định chưa có nội dung nào đánh giá về tính chất và vai trò đồng phạm của từng bị cáo. Trong khi đó, theo nội dung vụ án và đánh giá tại mục [1] ở trên thì có căn cứ xác định bị cáo M phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giúp sức cho bị cáo T mua 01 bánh ma túy Heroine và bán 0,014 gam Heroine cho Đào Đức M1. Mặt khác, chồng của bị cáo là Phạm Minh T đã bị xử tù chung thân trong cùng vụ án này; bị cáo đang nuôi 03 con nhỏ, trong đó con nhỏ nhất sinh ngày 09/01/2023 (dưới 36 tháng tuổi); bị cáo M không có tình tiết tăng nặng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và một phần ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo để sửa một phần Bản án sơ thẩm, áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, vừa bảo đảm thực thi chính sách nhân đạo của pháp luật nhưng cũng bảo đảm tính nghiêm minh đối với người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm.

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 195/2025/HS-PT ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Lê Thị Lệ Q và Trương Thị Mỹ P do có kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Lệ Q và Trương Thị Mỹ P

Nội dung sửa án 

Xét kháng cáo các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì thấy. Hành vi của các bị cáo Lê Thị Lệ Q, Trương Thị Mỹ P là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm đã cân nhắc áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạt bị cáo Lê Thị Lệ Q 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Trương Thị Mỹ P 08 (T2) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng. Tuy nhiên, Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Thị Lệ Q2 cung cấp đơn xác nhận bị cáo là thân nhân mẹ Việt Nam anh hùng, là cháu của mẹ Lê Thị N1, gia đình bên ngoại có liệt sỹ Trần H1, Trần Thị B1 và Trần T3. Gia đình bị cáo hiện đang rất khó khăn có mẹ già và nuôi ba con còn nhỏ.

Đối với bị cáo Trương Thị Mỹ P hiện đang rất khó khăn có hai con nhỏ sinh năm 2018 và 2020, chồng bị cáo bị thụ án 16 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, hiện các con đang nhờ gia đình bên ngoại nuôi dưỡng, vai trò của P chỉ là người thực hành cất giấu rồi bán hộ cho Q để kiếm lời. Do đó cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm cho các bị cáo một phần về hình phạt, xử các bị cáo đầu khung cũng đảm bảo tính răn đe giáo dục, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 883/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Nam do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Nam

Nội dung sửa án 

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, là nguyên nhân phát sinh hàng loạt tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác; Mặc dù bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “trộm cắp tài sản” nhưng đã được xóa án tích; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thông qua gia đình đã xuất trình thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới như: Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) thể hiện gia đình bị cáo hiện đang gặp nhiều khó khăn, bố đẻ bị cáo hiện đã cao tuổi, già yếu, ốm đau bệnh tật quanh năm, cần người chăm sóc; mẹ đẻ bị cáo mới chết ngày 27/8/2024, trước đó do bệnh nặng đã phải cắt hai bên thận, một bên chân phải, phải đi điều trị lọc máu mỗi tuần 03 lần giai đoạn trước khi chết; mặt khác, bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Ngọc B là người có công với cách mạng, đã từng tham gia quân ngũ, được tặng thưởng danh hiệu chiến sĩ thi đua và nhiều bằng khen, giấy khen, huy hiệu 40 năm tuổi đảng; khác trong quá trình tham gia quân ngũ; bị cáo có 03 con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng và việc bị cáo bị bắt quả tang nên ma túy chưa bị phát tán ra ngoài xã hội, xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo thì có cơ sở để HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, có cơ hội sớm trở về với gia đình chăm sóc con nhỏ, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Việc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn giữ nguyên hình phạt tù có thời hạn vẫn đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 14/2022/HS-PT ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Dương Xuân K và Triệu Văn N do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của các bị cáo

Nội dung sửa án 

(i) Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm thấy: Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại cấp sơ thẩm bị cáo Dương Xuân K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”, “tự thú”, quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51/BLHS. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng T2 khoản 2, Điều 51 có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 xử dưới mức thấp N của khung hình phạt nhưng phải trong khung hình phạt liền kề. Do đó, về điều luật cấp sơ thẩm đã áp dụng là có căn cứ, đúng quy định nhưng mức hình phạt còn thấp chưa tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. Bởi lẽ, bị cáo là người cung cấp ma túy, tổ chức cho nhiều người, nhiều lần sử dụng ma túy trái phép nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

(ii) Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Dương Xuân K thấy rằng: Về tội mua bán trái phép chất ma túy bị cáo được Đặng Tòn T nhờ mua hộ về chữa bệnh nên bị cáo mua hộ T 1.500.000đ. Lần thứ 2 khi Đ, C, D đến phòng ở của bị cáo để cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Các đối tượng này góp được 400.000đ đưa cho bị cáo mục đích là để trả tiền công bị cáo đã mua ma túy trước đó. Xét thấy, cả 02 lần bị cáo đều không có mục đích bán mua túy để kiếm lời. Việc bán ma túy cho Đặng Tòn T là do được nhờ giúp nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy bị cáo tự thú ra hành vi mua bán mua túy trước đó nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp T2 đơn đề nghị của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận bị bệnh nặng và quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt nội quy, quy định, chính quyền địa phương và nhân dân trong thôn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo đối với tội mua bán trái phép chất ma túy được HĐXX chấp nhận.

(iii) Đối với bị cáo Triệu Văn N: Bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 54 thì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 xử dưới mức thấp N của khung hình phạt. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định “bị cáo phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm” nên áp dụng khoản 2 Điều 54 là chưa hiểu đúng về quy định của Điều luật. Bởi lẽ, bị cáo là người đồng phạm giúp sức cho bị cáo K trong vụ án, nhưng bị cáo bị xét xử ở khoản 2 với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” nên không thể xác định bị cáo phạm tội lần đầu. Do đó, kháng nghị của Viện Kiểm sát đối với bị cáo N là có căn cứ cần chấp nhận.