MỤC LỤC

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 346/2025/HS-PT ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về các tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với các bị cáo Huỳnh Văn T, Trần Thị Diễm T2 và Võ Thị Thu H do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 55/2025/HS-PT ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”  đối với bị cáo Lương Chí C do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị hại

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 477/2024/HS-PT ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo  Phan Thị H do có kháng cáo của bị cáo Phan Thị H

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 493/2024/HS-PT ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim L do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị hại

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 104/2023/HS-PT ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Võ Tuấn Đ do có kháng nghị của Viện kiểm sát

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 140/2025/HS-PT ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Hữu Huy C do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu Huy C

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 114/2024/HS-PT ngày 27/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Thị O do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị O

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 945/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Đoàn Văn L do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn L

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HS-PT ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Bùi Thị Huyền C  do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Huyền C

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 04/2024/HS-PT ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội ““Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Cao Văn K do có kháng cáo của bị cáo Cao Văn K

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 346/2025/HS-PT ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về các tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với các bị cáo Huỳnh Văn T, Trần Thị Diễm T2 và Võ Thị Thu H do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại

Nội dung hủy án:

(i) Tuy vậy, căn cứ lịch sử giao dịch mua bán gạo giữa Công ty T7 và công ty L4 diễn ra từ năm 2011 đến năm 2013 thể hiện: Cũng với các hành vi nêu trên của các lãnh đạo, nhân viên có liên quan trong giao dịch đã ký rất nhiều Hợp đồng mua bán gạo với Công ty T7 mà tổng giá trị lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Hầu hết các hợp đồng đều thực hiện thành công nhưng chỉ có 15 hợp đồng (bị truy cứu trách nhiệm hình sự) với tổng giá trị hàng chưa thanh toán (làm tròn) là 146 tỷ. Do vậy, việc quy kết các hành vi sai nêu trên là nguyên nhân dẫn đến việc không thu hồi được số tiền 146 tỷ là chưa phù hợp với thực tế khách quan. Nghĩa là cơ quan điều tra chưa chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa việc làm sai nêu trong kết luận điều tra là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thất thoát tài sản.

(ii) Hơn nữa, theo kết quả điều tra thể hiện lời bào chữa của bị cáo H nêu “Bị cáo H cho rằng tất cả các hợp đồng mua bán gạo giữa Công ty T7 với Công ty L4 là hợp đồng mua bán có thật, nhằm mục đích mua bán gạo. Sở dĩ có việc Công ty T7 không thanh toán tiền hàng cũng không giao gạo cho Công ty L4 theo 15 hợp đồng nêu trên là do có việc bị cáo T và ông D có đến gặp bị cáo H kêu mua bán sắn lát với Công ty T10, lãi chia đôi, các giấy tờ hợp đồng sẽ do phía Công ty lương thực thực hiện, việc bàn bạc này chỉ nói miệng mà không có văn bản thỏa thuận, Công ty T7 đã chuyển cho Công ty T10 120 tỷ đồng để thực hiện hợp đồng số 01/HĐKT.2013 giữa Công ty T7 và Công ty T10, mục đích để mua bán sắn lát, chính vì thế nên có việc cấn trừ nợ 99 tỷ đồng do ông D ký ngày 17/01/2014 với Công ty T10 và Công ty T7 cùng Công ty L4. Số tiền còn lại hơn 46 tỷ đồng thì bị cáo đã đưa tài sản để cấn trừ nợ do đó bị cáo không phạm tội như cáo trạng đã nêu.” Trong hồ sơ vụ án có các chứng cứ chứng minh cho lời khai trên (Bút lục 100 – 101, 2098 – 2099, 2934) xác nhận của ông D (giác đốc công ty L4 khi còn sống) và bà Tuyết N1 (đại diện công ty T10) về các nội dung trên. Vì vậy nếu có thất thoát tài sản thì phải do chuỗi hành vi sai trái này của ông D mới là nguyên nhân trực tiếp nhưng chưa được đánh giá xem xét là thiếu sót. Hay nói cách khác việc xác định hành vi sai trái nào và do ai làm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thất thoát tiền của công ty L4 chưa được là rõ. Dẫn đến việc xác định thiếu người tham gia tố tụng là công ty T10, gây khó khăn cho việc truy thu dòng tiền bị thất thoát của Công ty L4.

(iii) Đối với nhóm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản”.

Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định thủ đoạn của bị cáo H là “Từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013 lợi dụng sự tin tưởng của Công ty L4 bị cáo H đã liên tục ký nhiều hợp đồng mua bán gạo và ứng tiền sau đó không giao hàng theo thỏa thuận, dẫn đến nợ 15 hợp đồng với số tiền nợ là 146.252.668.357 đồng”. Với thủ đoạn thông qua các giao dịch dân sự, Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm xác định hành vi gian dối của bị cáo H như sau “bị cáo H dùng tiền ứng của Công ty L4 sai mục đích nhưng bị cáo không báo cho Công ty L4 biết, thể hiện sự gian dối của bị cáo”. Tuy vậy, trong 15 Hợp đồng nêu trên cũng như toàn bộ các hợp đồng trước đó giữa hai bên đều không thỏa thuận nội dung nghĩa vụ của bị cáo H phải báo cáo với công ty L4 các nội dung trên. Do đó hành vi nêu trên không phải là hành vi gian dối của bị cáo để nhằm chiếm đoạt tài sản.

(iv) Xét về việc áp dụng pháp luật: Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã xác định hành vi phạm tội của bị cáo H đã thực hiện trong khoảng thời gian năm 2013 cho đến năn 2014. Do vậy, việc xác định có hay không hành vi phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của bị cáo phải căn cứ quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 chứ không thể căn cứ quy định Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực năm 2018). Vì thế, việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực năm 2018) để xác định hành vi “Công ty T7 có tài sản nhưng không thanh toán tiền hàng, cũng không giao hàng cho Công ty L4 thể hiện rõ ý thức chiếm đoạt của Công ty T7.” Là hành vi phạm tội của bị cáo H là chưa đúng.

(v) Hơn nữa như đã phân tích phần tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” tại mục [3.1] nêu trên thể hiện, trong hồ sơ vụ án có các chứng cứ chứng minh cho lời khai bào chữa của bị cáo H (Bút lục 100 – 101, 3001 – 3003, 1986) xác nhận của ông D (Giám đốc công ty L4 khi còn sống) và bà Tuyết N1 (đại diện công ty T10) về các nội dung trên nhưng chưa được đánh giá xem xét là thiếu sót. Ngoài ra, để chứng minh cho nội dung này thì tại trang 15 của bản án sơ thẩm cũng đã nêu về nội dung có liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT/2013 ngày 27/02/2013: “Ngày 17/02/2014 và ngày 03/03/2014, Công ty L4 tiếp tục ban hành văn bản yêu cầu 03 Công ty trên trả hàng gạo hoặc trả tiền thời gian cụ thể và xác nhận bằng văn bản về số nợ nhưng Công ty T7 vẫn không thực hiện. Từ tháng 5/2014 đến tháng 6/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết N1 có trả cho bị cáo H số tiền mua bán mì lát theo hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT/2013 ngày 27/02/2013 là 2.205.000.000 đồng nhưng bị cáo H không trả cho Công ty L4”. Trên cơ sở những chứng cứ này cho thấy, phần nhận định của bản án sơ thẩm tại trang 26 cho rằng thông qua nội dung lời đối chất của đại diện Công ty T10 nêu “không liên quan đến Hợp đồng mua bán gạo” để phủ nhận thỏa thuận của các bên đối với Hợp đồng mua bán mì lát số 01/HĐKT/2013 ngày 27/02/2013 là không khách quan. Từ những căn cứ nêu trên thể hiện sự tồn tại của giao dịch mì lát giữa ba bên mà bị cáo H khai này là có thật, dù là sai hay đúng thì cũng là sự thật khách quan cần được đánh giá trách nhiện của người thỏa thuận dẫn đến thất thoát tài sản và có biện pháp thu hồi tài sản thất thoát. Việc phủ nhận sự thật khách quan để quy kết bị cáo H đưa ra lý do không có thực là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là không đúng.

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 55/2025/HS-PT ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”  đối với bị cáo Lương Chí C do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị hại

Nội dung hủy án 

(i) Bản Kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS, ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Dream màu nâu biển số 61H7-8946 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị: 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy; Tòa án nhân dân huyện Phú Gi, tỉnh Bình Dương xét xử bị cáo Lương Chí C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trị giá tài sản bị cáo C chiếm đoạt là 1.800.000 đồng (khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự: trị giá tài sản chiếm đoạt từ 4.000.000 đến dưới 50.000.000 đồng) và do bị cáo có 01 tiền án về các tội chiếm đoạt tài sản nên đây là định khung hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự nhưng cấp sơ thẩm vừa áp dụng định khung hình phạt vừa áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là không chính xác, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

(ii) Đối với hành vi chiếm đoạt 01 phiếu cân hàng hóa (củi khô) có giá trị 520.000 đồng của ông C1 vào ngày 01/8/2024 mà bị cáo C thực hiện, mặc dù số tiền chiếm đoạt là 520.000 đồng nhưng do bị cáo C đã có 01 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhưng cấp sơ thẩm chưa tiến hành điều tra làm rõ căn cứ để xử lý là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm để xác định tiết định tội; định khung; tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên; do cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ hành vi chiếm đoạt 01 phiếu cân hàng hóa (củi khô) có giá trị 520.000 đồng là có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm, và có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nên cần thiết hủy bản án để điều tra, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật; do hủy bản án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của bị hại.

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 477/2024/HS-PT ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo  Phan Thị H do có kháng cáo của bị cáo Phan Thị H

Nội dung hủy án 

Với nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo với bị hại có nhiều mâu thuẫn, không thống nhất, nhưng quá trình điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa chứng minh, làm rõ giữa bị cáo với bà V có quan hệ vay mượn hay có hành vi chiếm đoạt, số tiền chiếm đoạt là bao nhiêu, chưa có cơ sở xác định giữa 02 bên là quan hệ lạm dụng lòng tin để bị cáo chiếm đoạt hay chỉ là giao dịch dân sự, trách nhiệm chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng chưa chứng minh đầy đủ về tội phạm, chưa đưa ra kết luận mang tính khẳng định, đặc biệt là lời khai của bị hại không thống nhất, lúc đầu thì khai hai bên vay mượn, sau đó thì khai hai bên chỉ mua bán (chuyển nhượng đất) nhưng cơ quan điều tra không tiến hành đối chất để làm rõ về từng vấn đề về giao dịch vay mượn hay chuyển nhượng đất, số tiền cụ thể là bao nhiêu, 1.700.000.000 đồng hay 1.000.000.000 đồng, có những ai biết rõ sự việc, số tiền 45.000.000 đồng bị cáo chuyển cho bà V là tiền lãi vay hay tiền bà V mượn của bị cáo, tại sao Hợp đồng đặc cọc, số tiền 1.700.000.000 đồng đề ngày 16/11/2019 nhưng đến phiên tòa ngày 06/9/2023 bà V mới cung cấp. Tài liệu này bị cáo cho là giả mạo nhưng quá trình điều tra cũng chưa được giám định làm rõ về tuổi mực theo Quyết định trưng cầu của cơ quan điều tra, trong trường hợp vượt khả năng giám định của Phòng K Công an tỉnh Q thì cần trưng cầu cơ quan giám định cao hơn để có cơ sở xác định, đánh giá chứng cứ. Việc đánh giá chứng cứ chính xác không những có ý nghĩa trong việc tránh oan, sai mà còn liên quan đến giải quyết trách nhiệm dân sự, án phí và các vấn đề khác của vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước đã phân tích, đánh giá những chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo, cho thấy, chưa có căn cứ kết tội đối với bị cáo, đồng thời xác định quá trình điều tra chưa đầy đủ, đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, do vậy, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tiến hành điều tra lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận.

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 493/2024/HS-PT ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim L do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị hại

Nội dung hủy án 

Hành vi nêu trên của bị cáo L đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật hình sự, bị hại trong vụ án này là bà S và ông N1, còn ông Lê Minh Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong vụ án này 4 thửa đất 77, 79, 80, 81 vẫn thuộc quyền

sử dụng hợp pháp của ông Đ.

Xét Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc xác định tội danh và tư cách bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và các đương sự trong vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận kháng cáo của ông Lê Minh Đ hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 104/2023/HS-PT ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Võ Tuấn Đ do có kháng nghị của Viện kiểm sát

Nội dung hủy án 

(i) Từ nhận định tại mục [3] và [4] đủ cơ sở xác định bị cáo Đ không có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu của tội “Tham ô tài sản” quy định tại Điều 353 của Bộ luật Hình sự mà chỉ có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cấp sơ thẩm lại truy tố và xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là xác định sai tội danh. Do tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự là tội nặng hơn tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên Hội đồng xét xử cần hủy án sơ thẩm để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm.

(ii) Mặt khác, Cơ quan chưa điều tra làm rõ lý do Công ty X đã yêu cầu Võ Tuấn Đ bàn giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng thi công công trình Màng C cho người khác thời điểm nào; không thu thập các quyết định bổ nhiệm ông L1 và quyết định điều động bị cáo Đ và không lấy lời khai Nguyễn Thanh L1 để làm rõ thời điểm L1 nhận nhiệm vụ, biên bản bàn giao nhiệm vụ giữa bị cáo Đ và ông L1 để xác định đúng hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm thủ tục tố tụng. Chứng cứ do Công ty X cung cấp về việc điều động bị cáo Đ từ ngày 25/8/2022 và lời trình bày của ông D tại phiên tòa phúc thẩm cung cấp tại phiên tòa là tình tiết mới phát sinh chưa được Cơ quan điều tra thu thập làm rõ nên là khách quan cho Tòa án cấp sơ thẩm.

(iii) Đối với Công ty L3, Công ty L2 đã nhiều lần mua bê tông thương phẩm của Đ với số lượng lớn, nhưng giá rẻ, chỉ bằng một phần hai so với giá thị trường, nhưng bị cáo giao dịch với các Công ty này và những người đại diện các Công ty khi mua bê tông từ bị cáo Đ có “biết rõ” bê tông mua được là do bị cáo phạm tội mà có hay không cũng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ để xem xét có hay không dấu hiệu của tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự để nhận định trong kết luận điều tra là thiếu sót.

(iv) Ngoài ra, trong hồ sơ thể hiện bị cáo Võ Tuấn Đ có yêu cầu Luật sư Lê Huy H1 là luật sư của Văn phòng luật sư Lê Huy H1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ là người bào chữa cho bị cáo Đ, nhưng bản án sơ thẩm không ghi họ, tên, địa chỉ người bào chữa nhưng không được đính chính, bổ sung kịp thời nên cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 140/2025/HS-PT ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Hữu Huy C do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu Huy C

Nội dung sửa án 

(i) Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá một cách khách quan toàn diện về diễn biến của hình vi, vai trò đồng phạm trong vụ án, mặt dù, bị cáo là người trực tiếp thuê xe, và chịu trách nhiệm về việc quản lý tài sản của người cho thuê, tuy nhiên, do anh T2 là bạn của N2 là người lo chi phí ăn uống cho cả nhóm trong thời gian ở tại Thanh Hóa, nên trước khi về lại Đà Nẵng anh T2 có yêu cầu N2 trả lại tiền cho anh T2 đã chi phí với số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); Do N2 không có tiền để trả theo yêu cầu của anh T2, nên N2 là người trực tiếp đề xuất cầm cố xe ô tô thuê của anh H1 để lấy tiền trả nợ cho anh T2, cùng đi tham gia ăn chơi nên bị cáo nể nang và đồng ý. Như vậy, việc cầm cố xe ô tô (thuê của anh H1) bị cáo N2 là người chủ mưu, là người trực tiếp giao dịch với anh M1, đồng thời cũng là người viết giấy vay tiền và giao xe cho anh M1 quản lý, số tiền nhận từ anh Minh N3 là người chịu trách nhiệm trả nợ cho anh T2 các khoản chi phí, còn lại N3 sử dụng cho cá nhân, bị cáo C tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức khi đồng ý giao xe ô tô mà bị cáo là người đứng ra (thuê của anh H1) cho N3 cầm cố vay tiền. Do vậy, trong vụ án này N3 là chủ mưu, có vai trò chính trong vụ án, bị cáo C là đồng phạm giúp sức, song Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá, phân hóa vai trò đồng phạm trong việc quyết định hình phạt cho từng bị cáo theo Điều 58 BLHS là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

(ii) Tại Bản án Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, tại phiên tòa bị cáo C quanh co chối tội, nên không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, qua đó xử phạt bị cáo 08 (tám) tù cao hơn mức hình phạt của bị cáo N3 là chưa phù hợp, có phần nghiêm khắc, trong khi đó lời khai của bị cáo tại biên bản phiên tòa phù hợp với diễn của hành vi, không đỗ lỗi cho N3, việc bị cáo khai báo còn quanh co né tránh là do nhận thức về pháp luật, tuy nhiên, tại phiên tòa cấp phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình nộp tiền án phí HSST (khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật), mặt khác, người bị hại ông H1 tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông Nguyễn N4 ông nội bị cáo đang được bị cáo là chăm sóc, có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, hiện ông đang bị bệnh tâm thần điều trị tại bệnh viện (có đơn xác nhận của địa phương), và bổ sung nhiều giấy khen, bằng khen của các cấp khen tặng cho ông vì có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của địa phương, cha bị cáo được Bộ T5 tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Tài nguyên và Môi trường, đây là những tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, tại phiên tòa, đại diện VKS nhân dân thành phố Đ đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo; Do đó, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo, nhân văn của pháp luật XHCN đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải.

(iii) Tiếp tục quy trữ tạm giữ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) do gia đình bị cáo tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng để đảm bảo việc thi hành án về án phí.

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 114/2024/HS-PT ngày 27/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Thị O do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị O

Nội dung sửa án 

Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Hà Nguyệt Á (là con gái bị cáo) đã xuất trình cho Tòa án cấp phúc thẩm giấy xác nhận trả tiền của 16 bị hại với tổng số tiền bồi thường là 2.134.388.500 đồng. Như vậy, hậu quả của vụ án cơ bản được khắc phục. Bên cạnh đó, chị Á cũng nộp cho Tòa án đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của 6 bị hại (có xác nhận của chính quyền địa phương); huân chương của bố đẻ, bố chồng và giấy khen của chồng bị cáo về các thành tích trong công tác. Hội đồng xét xử xét thấy đây là những tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cần được xem xét để giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 945/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Đoàn Văn L do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn L

Nội dung sửa án 

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho các bị hại, được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội từ hai lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự và quyết định mức hình phạt 07 năm tù đối với bị cáo Đoàn Văn L là có căn cứ. Tuy nhiên, xét bị cáo lần đầu bị kết án, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc biệt đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại. Tại cấp phúc thẩm bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng: Bị cáo đầu thú và ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp.

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HS-PT ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Bùi Thị Huyền C  do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Huyền C

Nội dung sửa án 

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo và đã cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang ly thân chồng, một mình nuôi con nhỏ 28 tháng tuổi; quá trình sinh sống bị cáo tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, sau khi xét xử đã thực sự hối hận, chấp hành tốt các quy định, chính sách pháp luật, có xác nhận của Chính quyền địa phương. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; trong thời gian được tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

10. Bản án hình sự phúc thẩm số 04/2024/HS-PT ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Cao Văn K do có kháng cáo của bị cáo Cao Văn K

Nội dung sửa án 

Xét thấy kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khần nhận tội, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, áp dụng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo K1 và theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xem xét cho bị cáo Cao Văn K được cải tạo tại địa phương được hưởng án treo, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung tội phạm.