Tổng hợp 10 bản án hủy, sửa về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
MỤC LỤC
1. Bản án hình sự phúc thẩm số 1062/2025/HS-PT ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Chử Đức P do có kháng cáo của bị cáo Chử Đức P, bị hại Hoàng Thế A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lường Thị T
Nội dung hủy án:
(i) Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện chị Lường Thị T. quá trình điều tra, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm vẫn giữ yêu cầu làm rõ Chử Đức P. hay ai đã rút số tiền 200.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm nhận định: Chị Tấm cũng không yêu cầu gì về số tiền phí chị Tấm bị trừ trong quá trình nâng hạn mức thẻ tín dụng là chưa đảm bảo khách quan.
(ii) Tại Bút lục 134a, có 01 ảnh chụp màn hình điện thoại Zalo, cấp sơ thẩm đã căn cứ để nhận định chị Lường Thị T. đã đồng ý mức chi phí nâng hạn mức thẻ là 38%. Tuy nhiên, việc thu thập tài liệu này chưa đúng quy định tố tụng hình sự. Trong nội dung tin nhắn không thể hiện rõ về thỏa thuận chi phí 200.000.000 đồng.
Như vậy, có sự mâu thuẫn trong lời khai của bị cáo Chử Đức P., chị Lường Thị T. và chị Lê Diệu T. về thỏa thuận mức phí nâng thẻ; chứng cứ, tài liệu điều tra chưa đầy đủ, nên chưa đủ cơ sở nhận định chị Lường Thị T. đồng ý với chi phí 200.000.000 đồng và đây là thỏa thuận dân sự.
(iii) Tuy nhiên, Cơ quan điều tra có công văn gửi Ngân hàng VPBank làm rõ số thẻ XXXXXXXXXXXX6601 với các yêu cầu: “02 giao dịch trên được thực hiện việc chuyển rút tiền, thanh toán tiền bằng hình thức nào? Thanh toán mặt hàng gì? Giao dịch ở đâu (Cung cấp địa chỉ cụ thể), Số tài khoản người nhận tiền, thông tin người chuyển tiền, nhận tiền là như thế nào? Cung cấp thông tin hình ảnh, camera tại khu vực thanh toán tiền. Nếu thẻ tín dụng số XXXXXXXXXXXX6601 được thanh toán bằng máy quẹt thẻ cầm tay thì máy đó được cung cấp cho cá nhân, tổ chức, công ty nào?”
Do số thẻ Cơ quan điều tra yêu cầu xác minh số thẻ XXXXXXXXXXXX6601 không đúng với số thẻ phát sinh giao dịch XXXXXXXXXXXX0128 nên ngân hàng VPBank phúc đáp “không phát sinh 02 giao dịch” và không phúc đáp nội dung cần xác minh theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
(iv) Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa làm rõ thông tin, lời khai của ông Nguyễn Quang Khải - Cán bộ ngân hàng VPBank về các nội dung: Quy trình làm thẻ của ông Nguyễn Quang Khải có đúng quy định không? Ông Khải nhận hồ sơ làm thẻ từ ai, trả hồ sơ thẻ tín dụng cho ai? Người không được ủy quyền có được đi làm thay không? Việc nâng hạn mức thẻ có phải nộp phí không? Sau khi hoàn thành nâng hạn mức thẻ số XXXXXXXXXXXX0128, thì hiện nay, căn cước công dân của chị Lường Thị T. và thẻ tín dụng số XXXXXXXXXXXX0128 ai đang cầm giữ.
(v) Thứ năm, Cơ quan điều tra có Công văn gửi cho Phòng PA05 – Công an Hà Nội làm rõ nội dung: “Xác minh, xác định dựng lý lịch, ảnh đối với người sử dụng tài khoản Telegram A “Xác minh, xác định dựng lý lịch, ảnh đối với người sử dụng tài khoản Zalo B. Tuy nhiên, hồ sơ không thể hiện kết quả trả lời của Phòng PA05.
Từ những vấn đề nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cấp sơ thẩm nhận định chị Lường Thị T. đồng ý thỏa thuận chi phí 200.000.000 đồng để nâng hạn mức thẻ tín dụng và là giao dịch dân sự, là chưa đủ căn cứ. Cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ ai đã rút số tiền 200.000.000 đồng của chị Lường Thị T.. Quy trình làm hồ sơ nâng hạn mức thẻ tín dụng của cán bộ ngân hàng VPBank cho chị Lường Thị T. có đúng quy định không.
2. Bản án hình sự phúc thẩm số 169/2025/HS-PT ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo T do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo T
Nội dung hủy án:
(i) Còn kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng mặc dù ông Lê Hoàng D không có sự bàn bạc, thỏa thuận gì với bị cáo T về việc T nhận tiền của ông C để xin cho người thân của ông C được tại ngoại. Tuy nhiên, ông Lê Hoàng D là người giới thiệu bị cáo T cho ông C để ông C liên hệ với T, trong khi đó Lê Hoàng D biết rõ bị cáo T là người không có chức vụ, quyền hạn gì trong việc giải quyết tại ngoại cho người thân của ông C, khi ông C nghi ngờ việc đưa tiền cho T không đảm bảo thì Lê Hoàng D đã đứng ra cam đoan việc đưa tiền cho T là đảm bảo và để ông C tin tưởng hơn, Lê Hoàng D còn đưa ra thông tin không đúng sự thật, tạo sự tin tưởng để ông C chuyển tiền cho T và T đã chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Trong vụ án này, hành vi của Lê Hoàng D đã thực hiện với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội nhưng Cấp sơ thẩm không điều tra, truy tố, xét xử đối với Lê Hoàng D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là bỏ lọt người phạm tội.
Do vậy, để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và triệt để thì trong quá trình điều tra lại vụ án cần phải xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ, điều tra làm rõ để tránh bỏ lọt người phạm tội cũng như có sự đánh giá, xác định chính xác về tội danh đối với người phạm tội nếu hành vi của Lê Hoàng D có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
(ii) Ngoài ra, trong vụ án này ông Trần Xuân C là người biết rõ về hành vi vi phạm pháp luật tại cơ sở massage Đại K của gia đình ông, nên ông C đã nhờ ông Lê Hoàng D tìm người có chức vụ, quyền hạn hoặc người có khả năng giúp đỡ để xin cho người thân của C không bị xử lý theo quy định của pháp luật. Mặt khác, khi thỏa thuận và đưa tiền cho bị cáo T thì ông C nhận thức được là T sẽ dùng số tiền của ông C đã đưa và mong muốn để bị cáo T sẽ liên hệ và tác động đến người có chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc vi vi phạm pháp luật tại cơ sở massage của gia đình C nhằm xin cho người thân của C không bị xử lý theo quy định của pháp luật; mặc dù bị cáo T không tác động đến người có thẩm quyền rồi chiếm đoạt số tiền đó tiêu xài cá nhân thì thấy hành vi của ông C đã có dấu hiệu của tội phạm “Đưa hối lộ” theo quy định tại Điều 364 Bộ luật Hình sự nên tiếp tục đấu tranh điều tra làm rõ để tránh bỏ lọt tội phạm.
(iii) Ngoài ra cũng cần tiếp tục điều tra làm rõ về hành vi của các đối tượng có liên quan đến vụ án như việc ông Nguyễn Văn S là người cho ông C mượn tiền và biết được việc ông C mượn tiền là để chuyển cho bị cáo T; số tiền ông S chuyển vào tài khoản của T thì ông Hoàng Minh Q là người sử dụng số tiền này và làm rõ các đối tượng có liên quan khác.
Do cấp sơ thẩm điều tra, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và đánh giá chưa đầy đủ, toàn diện và triệt để của bản chất nội dung vụ án, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội, nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk và một phần kháng cáo của bị cáo T hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2025/HSST, ngày 08/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Tỉnh Đắk Lắk) để điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Bản án hình sự phúc thẩm số 1026/2024/HS-PT ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với các bị cáo Trương Quang Anh Đ và Trần Nguyễn Duy P do có kháng nghị của Viện kiểm sát
Nội dung hủy án:
(i) Các đối tương nêu trên đã thực hiện hành vi gian dối, giúp sức tích cực cho các bị cáo trong việc chiếm đoạt tài sản của bị hại. Nếu không có sự tham gia giúp sức của các đối tương này thì hơp đồng sẽ không đươc duyệt, các bị cáo không thể chiếm đoạt đươc tiền của các công ty tài chính. Do đó, ba nhóm đối tương trên là mắc xích quan trọng trong vụ án, hành vi của họ mang tính chất quyết định đến việc bị cáo có chiếm đoạt đươc tài sản hay không. Quá trình điều tra, các đối tương trên đều khai nhận bản thân nhận đươc hành vi của mình không đúng pháp luật, không đúng quy trình mua hàng trả góp, biết thực tế không có việc ký hơp đồng vay để mua hàng trả góp mà thực chất là vay để bị cáo P2, Đ lấy tiền mặt và không nhận hàng, nhưng vì vụ lơi mà các đối tương này đã nhiều lần thực hiện hành vi giúp sức như nêu trên, bỏ mặc và chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, hành vi của 03 nhóm đối tương nêu trên có dấu hiệu đồng phạm với các bị cáo Đ, P2 về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Cấp sơ thẩm nhận định cho rằng quá trình điều tra, các đối tương trên không biết việc bị cáo Đ và P2 cấu kết với nhau nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại; đồng thời, hầu hết đã nộp lại số tiền đã đươc hưởng lơi, riêng nhóm chủ cửa hàng điện thoại đều đồng ý bồi thường cho Công ty T7 theo nội dung hơp đồng hơp tác kinh doanh đã ký kết nên chưa đủ căn cứ xác định các đối tương trên có đồng phạm với Đ và P2, là chưa đủ cơ sở vì như phân tích trên các đối tương này nhận thức đươc hành vi giúp sức của mình và chấp nhận hậu quả xảy ra, tội phạm đã hoàn thành từ thời điểm các bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại, việc hoàn trả số tiền hưởng lơi chi là khắc phục hậu quả. Cấp sơ thẩm không tiến hành điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật đối với ba nhóm đối tương trên là có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội và giải quyết vụ án chưa triệt để.
(ii) Về hình phạt, bị cáo Đ chi có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có 01 tình tiết tặng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. bị cáo phạm tội với số tiền chiếm đoạt rất lớn, gấp nhiều lần số tiền định khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự, bị cáo là người chủ mưu, lôi kéo nhiều người tham gia giúp sức, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, thuộc trường hơp cần phải nghiêm trị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chi xử phạt bị cáo 15 năm tù là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra.
(iii) Đối với bị cáo P2, Tòa án cấp sơ thẩm xác định 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 10 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đươc áp dụng. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội với vai trò rất tích cực, số tiền chiếm đoạt rất lớn, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để hạ khung hình phạt đối với bị cáo là chưa đúng quy định.
(iv) Ngoài ra, đây là vụ án đồng phạm, nhiều người tham gia, cùng nhau thực hiện tội phạm nhiều lần theo một kế hoạch đã đươc bị cáo Đ và P2 vạch ra cụ thể từ trước, có sự phân công công việc, vai trò cụ thể, rõ ràng, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và chịu sự điều khiển của các bị cáo Đ, P2. Như vậy, giữa những người phạm tội có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hơp phạm tội có tổ chức, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này khi lương hình đối với các bị cáo là thiếu sót.
(v) Về trách nhiệm dân sự: Sau khi chiếm đoạt đươc tiền của những người bị hại, bị cáo P2 đã trả thù lao cho Nguyễn Thị Hoài T3, Lâm Hoài B và Đỗ Thị Tuyết M2 (Đỗ Tuyết M2) tổng cộng 58.600.000 đồng. Như vậy, đây là tiền tang vật của vụ án cần phải thu hồi để hoàn trả cho các bị hại. Tuy nhiên, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc 3 người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Hoài T3, Lâm Hoài B và Đỗ Thị Tuyết M2 (Đỗ Tuyết M2) hoàn trả số tiền trên cho bị cáo Trần Nguyễn Duy P là không chính xác.
4. Bản án hình sự phúc thẩm số 479/2024/HS-PT ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Hoàng Thị Hải Y do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện kiểm sát
Nội dung hủy án:
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Y thừa nhận việc đã chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thị Ái V số tiền 1.992.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong số tiền chiếm đoạt của bị hại, bị cáo Y khai đã trả cho bà Nguyễn Thị H2 (mẹ chồng của Y) 745.000.000 đồng để bà H2 mua đất, bà H2 khai Y có nợ tiền bà nên đã dùng tiền để mua trả cho bà thửa đất tại thị trấn I huyện I, các lời khai này là phù hợp với lời khai của anh Trần Kim H1 là chồng bị cáo và các tài liệu khác. Do vậy cần phải đưa bà H2 vào tham gia tố tụng và xem xét trách nhiệm của bà H2 trong việc
hoàn trả lại cho bị hại số tiền trên. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm không đưa bà
Nguyễn Thị H2 vào tham gia tố tụng và cũng không xem xét về trách nhiệm của bà H2 trong việc hoàn trả lại cho bị hại số tiền trên mà buộc bị cáo trả lại toàn bộ
số tiền chiếm đoạt cho bị hại là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Để giải quyết toàn diện vụ án đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong vụ án, cần huỷ phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm để giải quyết lại phần dân sự theo đúng quy định của pháp luật.
5. Bản án hình sự phúc thẩm số 213/2022/HS-PT ngày 20/4/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đối với bị cáo Phạm Quang B do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại
Nội dung hủy án:
(i) Qua xem xét các giấy tờ, tài liệu bị cáo B vay tiền của bà T được hai bên xem xét để chốt nợ đều có quy định thời hạn vay nhưng không ghi mục đích của việc vay tiền. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Quang B và bà Nguyễn Thị T đều xác định, việc lập 02 giấy vay tiền và cam kết đề ngày 10/11/2018 và ngày 15/12/2018 để chốt số nợ như trên là sự tự nguyện của 02 bên. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ được thủ đoạn gian dối của bị cáo B trong việc lập 02 giấy vay tiền và cam kết đề ngày 10/11/2018 và ngày 15/12/2018 với các nội dung nêu trên.
Qua đó nhận thấy, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Phạm Quang B lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại bằng thủ đoạn gian dối như trên là chưa đủ cơ sở vững chắc.
(ii) Về vần đề này, Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù cả bà T và bị cáo B đều không trình bày chính xác số tiền gốc và tiền lãi, nhưng đây là vấn đề khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo B chiếm đoạt của bà T 103 tỷ đồng là không có căn cứ; cấp sơ thẩm chưa làm rõ được số tiền gốc và số tiền lãi trong tổng số tiền 103 tỷ đồng này là thuộc trường hợp điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
(iii) Thêm nữa, qua xét xử tại phiên tòa phúc thẩm nhận thấy, bị cáo B và bà T đã lập giấy chốt nợ cả gốc và lãi vào các ngày 10/11/2018 và ngày 15/12/2018. Tuy nhiên, theo Bảng sao kê tài khoản của bà Nguyễn Thị T tại ngân hàng Maritime thì trong thời gian này bị cáo B vẫn nhiều lần chuyển tiền cho bà T. Hơn nữa, từ ngày 15/12/2018 đến 28/12/2018 bị cáo B có chuyển vào tài khoản của bà T 03 lần: Ngày 21/12/2018 chuyển 02 lần, lần đầu 5,530 tỷ đồng, lần sau 100 triệu đồng và ngày 25/12/2018 chuyển 600 triệu đồng. Song, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử theo trình tự sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không làm rõ số tiền này là tiền gì nên cũng thuộc trường hợp cấp sơ thẩm điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
(iv) Cáo trạng truy tố bị cáo B có nội dung ghi rõ “Qua thống kê các giao dịch tại Ngân hàng Sacombank, tổng cộng Huỳnh Lâm H, Phan Trọng H2 đã chuyển cho B tổng số tiền 191,882 tỷ đồng và B đã chuyển trả lại tiền cho 02 bị hại trên số tiền 176,005 tỷ đồng. Như vậy số tiền B chiếm đoạt của Huỳnh Lâm H, Phan Trọng H2 là 15,877 tỷ đồng”. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Huỳnh Lâm H là bị hại còn đối với ông Phan Trọng H2 thì Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo B chiếm đoạt của ông H số tiền 15,877 tỷ đồng; còn đối với ông Phan Trọng H2, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “Do không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án nên không xem xét”, là mâu thuẫn với nội dung Cáo trạng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Hiếu.
(v) Thêm nữa, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết cả quan hệ dân sự và buộc bị cáo B phải bồi thường về trách nhiệm dân sự không thuộc phạm vi truy tố của bản Cáo trạng như: Buộc bị cáo B bồi thường cho ông Phí Nhật H3 số tiền 14,5 tỷ đồng với nhận định: “Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án anh Phí Nhật H3 có đầu tư góp vốn cho bị cáo là 14,5 tỷ đồng. Tại phiên tòa bị cáo và anh Hoàng xác nhận số tiền trên bị cáo chưa hoàn trả cho anh Hoàng; hiện anh Hoàng có yêu cầu bị cáo trả số tiền trên, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo phải bồi thường”, là vi phạm nghiêm trọng Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
(vi) Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo B còn cho rằng, quyết định về xử lý vật chứng của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng với Luật hôn nhân và gia đình, cùng các vấn đề khác, như: Số tiền 05 tỷ đồng bị cáo chuyển cho bị hại Huỳnh Lâm H nhưng trong thống kê Cơ quan điều tra chỉ ghi 500 triệu đồng; ông Phan Trọng H2 có nhận tiền từ bị cáo 03 lần nhưng Cơ quan điều tra chỉ thống kê 01 lần vào ngày 22/8/2018 số tiền 1,8 tỷ đồng, còn 01 lần ngày 18/10/2018 số tiền 3,150 tỷ đồng và 01 lần số tiền 1,280 tỷ đồng thì không được thống kê; quá trình làm ăn, bị cáo có chuyển tiền qua tài khoản của ông H tại VPBank, bị cáo có yêu cầu sao kê tài khoản VPBank của ông H để đối chiếu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện; bị cáo yêu cầu được đối chất với ông Nguyễn Hoàng L1 để xác định rõ số tiền của ông L1; đối với các bị hại khác như ông Trần Hoàng H1, ông Nguyễn Hồng P thì bị cáo không tiếp cận, mà là họ thỏa thuận với bị cáo cho vay lấy lãi chứ bị cáo không đưa ra thông tin gian dối đối với những người này mà do họ có tiền nên cho bị cáo vay.
Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T còn cho rằng, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò của bà L trong vụ án; chưa thu thập chứng cứ xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà T đi đâu về đâu, sử dụng vào mục đích gì và ai là người sử dụng để xem có đồng phạm với bị cáo hay không?
6. Bản án hình sự phúc thẩm số 878/2025/HS-PT ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Phương Văn T do có kháng cáo của bị cáo Phương Văn T
Nội dung sửa án:
Trong vụ án này, bị cáo đã phạm hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” có khung hình phạt cao. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự đồng thời rút đơn tố giác đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo 11 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 năm tù về tội “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức”, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 15 năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm phát sinh tình tiết mới là bị cáo đã tác động về gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại. Tại phiên toà, bị hại xác nhận đã nhận được toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với tội ”Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đối với tội “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức” mức hình phạt của bản án sơ thẩm là phù hợp nên cần giữ nguyên.
7. Bản án hình sự phúc thẩm số 10/2026/HS-PT ngày 19/01/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Dương Thị Minh T do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị Minh T
Nội dung sửa án:
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm giấy chứng nhận ông, bà nội bị cáo được Nhà nước khen thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì theo quyết định số 235 KT/CTN ngày 23/3/2001 của Chủ tịch nước, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo. Đánh giá về động cơ, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát nhất thời, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo suy nghĩ rằng để có tiền trả nợ cho mẹ và người khác, nên đã thuê xe người quen đem cầm cố để xoay xở tiền trong khoảng thời gian. Sau khi sự việc bị phát hiện, bị cáo đã chủ động trả tiền cho người nhận cầm cố nhằm mục đích chuộc lại xe giao trả lại cho bị hại và chiếc xe đã được cơ quan Công an giao trả lại cho bị hại, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là “Phạm tội gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải, có ý thức sửa chữa lỗi lầm.
8. Bản án hình sự phúc thẩm số 05/2026/HS-PT ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Đăng G do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng G
Nội dung sửa án:
(i) Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo nộp tài liệu mới thể hiện việc đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, 84.464.100đ tiền bồi thường khắc phục hậu quả và án phí dân sự, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
(ii) Trong vụ án này bị cáo G là người giữ vai trò chính, do đó cấp sơ thẩm xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo G, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục là có căn cứ. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nộp thêm số tiền 84.464.100đ để bồi thường khắc phục hậu quả, nộp án phí dân sự và hình sự, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Bị cáo lần đầu vi phạm pháp luật, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
9. Bản án hình sự phúc thẩm số 159/2025/HS-PT ngày 10/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Bạch Sỹ Quang D do có kháng cáo của bị cáo Bạch Sỹ Quang D
Nội dung sửa án:
Vụ án có đồng phạm, cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo Bạch Sỹ Quang Đ là người khởi xướng và có vai trò chính trong vụ án là đúng. Do Bị cáo Đ thực hiện 17 lần hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; quá trình điều tra bị cáo tác động để gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; gia đình bị cáo có công với cách mạng ông bà nội, ngoại đều được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến; Bố bị cáo tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế được Bộ giải quyết trợ cấp 1 lần; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Như vậy bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng; nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 điều 51 BLHS và có 03 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 điều 51 BLHS, bị cáo phạm tội lần đầu, thực hiện hành vi phạm tội do suy nghĩ bồng bột vì tuổi đời còn trẻ (18 tuổi), bị cáo cùng gia đình đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Bạch Sỹ Quang Đ 11 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có phần nghiêm khắc. Trên cơ sở xem xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
10. Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2025/HS-PT ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Tống Tất Hà V và các đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo
Nội dung sửa án:
Tuy nhiên, xét các bị cáo Tống Tất Hà V, Lê Gia H1, Đào Đăng D2 phạm tội thuộc khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt ít nghiêm trọng); có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 (03 tình tiết) và nhiều tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hơn nữa, thời điểm các bị cáo phạm tội đang ở độ tuổi vị thành niên, bồng bột, thiếu suy nghĩ, chưa có sự hoàn thiện về nhân cách và nhận thức, lại có nhiều hoàn cảnh éo le, gia đình khó khăn.Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà V xuất trình giấy báo trúng tuyển đại học. Do đó, HĐXX xét thấy mức án 12 tháng tù đối với bị cáo Tống Tất Hà V, 10 tháng tù đối với bị cáo Lê Gia H1, 09 tháng tù đối với bị cáo Đào Đăng D2 mà cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc nên cần xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức án nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo tạo điều kiện để các bị cáo sửa chữa lỗi lầm và có điều kiện tham gia học tập tiếp là đã đủ nghiêm.