Tổng hợp 10 bản án hủy, sửa về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền liên quan đến quyền định đoạt tài sản là nhà, đất
MỤC LỤC
1. Bản án dân sự phúc thẩm số 832/2025/DS-PT ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp yêu cầu huỷ hợp đồng ủy quyền, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp đòi lại tài sản
Nội dung hủy án:
(i). Theo chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện, năm 2021 ông Nguyễn Kim Q khởi kiện ông Phan Văn H và bà Đỗ Thị N trả lại diện tích đất 301m2 thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 36, tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương cùng tài sản trên đất là căn nhà cấp 4. Vụ án theo đơn khởi kiện của ông Q được giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 02/6/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (bút lục 04-09). Tại Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên xác định ông Cao Văn Nghĩa L1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nhận định: “Thời điểm ký Hợp đồng ủy quyền ngày 03/8/2013, các bên tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật. Ông Q và bà N1 đều thừa nhận chữ ký và chữ viết tên Nguyễn Kim Q, Mai Thị Tuyết N1 tại Hợp đồng ủy quyền là chữ ký và chữ viết của ông Q và bà N1. Hợp đồng được cơ quan có thẩm quyền vi phạm pháp luật. Như vậy, Hợp đồng ủy quyền là hợp pháp nên phát sinh hiệu lực và ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia ký kết.
Ông Q cho rằng việc ký Hợp đồng ủy quyền, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N là để đảm bảo cho khoản vay của ông Q, bà N1 đối với bà N với số tiền 1.400.000.000 đồng nên ông Q đồng ý trả lại cho ông Phan Văn H và bà Đỗ Thị N số tiền 1.400.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 26/8/2014 cho đến khi xét xử sơ thẩm nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh có việc vay tiền giữa ông Q, bà N1 với ông H, bà N nên Hội đồng xét xử không xem xét.”
Do hợp đồng ủy quyền có hiệu lực, giữa bà N với ông Q, bà N1 không có văn bản thỏa thuận hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 03/8/2013 đã giao kết nên việc bà N nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản là căn nhà cấp 4 cùng diện tích đất 301m² (đo đạc thực tế tăng 30,3m²) thuộc thửa 51, tờ bản đồ số 36 để thực hiện công việc được ông Q và bà N1 ủy quyền là phù hợp. Như vậy, ông Q yêu cầu bà N và ông H trả lại tài sản 01 căn nhà cấp 4 cùng diện tích đất 301m² (đo đạc thực tế tăng 30,3m²) thuộc thửa 51, tờ bản đồ số 36 là không có căn cứ chấp nhận…”.
Tại Bản án sơ thẩm mà các đương sự đang có kháng cáo đã nhận định: “Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn cung cấp chứng cứ mới là bản chính Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 03/8/2013 và Giấy bàn giao nhà ngày 26/8/2014 đồng thời thừa nhận việc các bên ký kết với nhau hợp đồng ủy quyền có số công chứng 004693, quyển số 05/TP/CC – SCC/HĐGD ngày 03/8/2013 giữa bà Mai Thị Tuyết N1, ông Nguyễn Kim Q với bà Đỗ Thị N là để che giấu đảm bảo cho việc thực hiện giao dịch vay mượn tài sản (tiền) giữa các bên đối với số tiền vay là 1.400.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng thừa nhận việc các bên xác lập Hợp đồng ủy quyền mục đích là che giấu cho việc vay tiền do đó hợp đồng ủy quyền sẽ bị vô hiệu, giao dịch bị che giấu (vay mượn tiền) phát sinh hiệu lực theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2005”.
Như vậy, nhận định về cùng một hợp đồng ủy quyền tại Bản án sơ thẩm vào năm 2022 nêu trên mâu thuẫn với chính nhận định tại bản án sơ thẩm mà các đương sự đang có kháng cáo. Tòa án cấp sơ thẩm khi thụ lý, giải quyết đã không thu thập, xác minh tính có hiệu lực của Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 02/6/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để xem xét, giải quyết yêu cầu của đương sự theo đúng quy định pháp luật.
(ii). Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu bồi thường tài sản 153.690.000 đồng của ông Q là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu trên là không đúng. Bởi, theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung ông Q có yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền tạm tính là 10.000.000.000 đồng, đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, ông Q yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị thửa đất cho nguyên đơn theo giá định giá với số tiền 5.818.000.000 đồng và bồi thường tài sản gắn liền với đất theo định giá là 153.690.000 đồng. Như vậy, số tiền bồi thường trên vẫn thuộc phạm vi khởi kiện ban đầu của ông Q.
(iii). Theo yêu cầu, yêu cầu khởi kiện bổ sung nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N (là người được ông Q, bà N1 ủy quyền) với ông N2, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng buộc ông N2 trả lại quyền sử dụng đất thửa 51 cho ông Q, bà N1 trong khi không xem xét đến tài sản có trên đất gồm 02 căn nhà và mái che; không làm rõ tài sản ông N2 nhận chuyển nhượng là tài sản riêng của ông N2, hay tài sản chung vợ chồng ông N2 để đưa vợ ông N2 vào tham gia tố tụng là có vi phạm tố tụng và không đảm bảo việc thi hành án. Đồng thời, không xem xét quyền lợi của ông N2 khi hủy hợp đồng, dành quyền khởi kiện cho ông N2 bằng vụ kiện khác là không đúng, giải quyết vụ án không triệt để.
(iv). Các bên đều xác định, thời điểm ông Q, bà N1 ký ủy quyền cho bà N có 1 căn nhà, hiện tại theo kết quả thẩm định có 02 căn nhà, theo bản án năm 2022, xác định nhà ông N2 đã phá bỏ, xây mới. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông N2 xác định ông N2 sửa chữa lại căn nhà trên sườn căn nhà cũ, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ hiện trạng căn nhà tại thời điểm ký ủy quyền, định giá căn nhà thời điểm bà N1 giao cho bà N, ông H để làm căn cứ giải quyết yêu cầu bồi thường của nguyên đơn.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm. Do đó kháng cáo của bị đơn bà N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nghĩa L1 có căn cứ chấp nhận một phần.
2. Bản án dân sự phúc thẩm số 768/2025/DS-PT ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nội dung hủy án:
(i). Ngày 15/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 87 và Quyết định định khởi tố bị can số 115 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại khoản 2 Điều 331 của Bộ luật Hình sự đối với bà Đặng Thị H. Ngày 15/8/2019, bà H bị áp dụng biện pháp tạm giam theo Quyết định số 48/QĐ của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 566/KL-VPYTW ngày 08/10/2019 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B kết luận: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn hoang tưởng (F22.0-ICD.10).
Ngày 14/10/2019, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 02/QĐ-VKS.P2 đối với Đặng Thị H. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 06 đối với vụ án trên.
Năm 2020, ông N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên bố bà H mất năng lực hành vi dân sự. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS ngày 26/02/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định: Tuyên bố bà Đặng Thị H là người mất năng lực hành vi dân sự.
Sau khi có quyết định, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh) có Quyết định kháng nghị số 05/QĐKNPT/VKS-DS ngày 04/3/2021 đối với Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS nêu trên, với lý do: Theo lý lịch bị can Đặng Thị H thể hiện mối quan hệ gia đình của bà H có cha là ông Đặng Đình D, mẹ là bà Vũ Thị C5, chồng là ông Dương Văn T5 (đã ly hôn), con là Dương Đặng Thiên L1, sinh ngày 17/01/2012. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ người giám hộ đương nhiên - đại diện theo pháp luật của bà H theo Điều 53, Điều 136 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để đưa họ vào tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà H trong việc dân sự, đồng thời để họ biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên đối với người được giám hộ là bà H, vi phạm khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị, hủy quyết định trên để giải quyết lại theo thủ tục chung. Tại Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2021/QĐPT-DS ngày 16/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS ngày 26/02/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh).
Công văn số 142/VPYTW ngày 29/6/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B trả lời: Ngày 03/6/2022, thực hiện Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 2448/QĐ-VKSBD-P2 ngày 25/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), Viện Kiểm sát đã tiến hành bàn giao bệnh nhân sau thời gian bắt buộc chữa bệnh đã ổn định (không cần thiết áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nữa) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).
Công văn số 662/VPCQCSĐT ngày 08/4/2024 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) cung cấp thông tin: Ngày 03/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) tiếp nhận bệnh nhân Đặng Thị H tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương B; cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) đã bàn giao bệnh nhân Đặng Thị H cho đại diện người thân của bệnh nhân là ông Ngô Minh Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Quá trình tố tụng, bà Vũ Thị C5 (mẹ của bà H) không đồng ý là người giám hộ đương nhiên cho bà H do bị tai nạn giao thông không đi được, hai mắt mù, yêu cầu Tòa án giải quyết trực tiếp với bà H, bà H đã ra Viện từ tháng 5/2022; tại biên bản làm việc ngày 03/6/2024, bà H xác định hiện nay bà H đã bình phục hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng sau khi chữa bệnh xong bà H không còn giữ giấy tờ liên quan đến hồ sơ bệnh án (bút lục số 798, 820, 836); ông D là cha bà H thì có quyền lợi đối lập với bà H. Khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự quy định: “...Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự”.
Theo kết quả xác minh ngày 14/3/2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh) thì đến thời điểm hiện nay chưa có thụ lý giải quyết yêu cầu hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS ngày 26/02/2021 nêu trên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2025, ông N trình bày chưa yêu cầu hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS ngày 26/02/2021 này; bà H trình bày đến nay bà H mới biết việc bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm bà H có trình bày hiện nay đã bình phục hoàn toàn khỏe mạnh, việc yêu cầu hủy bỏ quyết định trên thì ông N là người yêu cầu nên ông N phải là người thực hiện yêu cầu hủy bỏ quyết định, bà H đang nuôi con nhỏ nên không có thời gian thực hiện.
Tại phiên tòa ngày 20/3/2025, Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định tạm ngừng phiên tòa để ông N, bà H thực hiện việc hủy bỏ quyết định nêu trên. Sau đó, ông N đã nộp đơn yêu cầu hủy bỏ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS, nhưng đến ngày 11/6/2025, ông N rút yêu cầu giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh) đã ra Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự số 10/QĐST-VDS.
Như vậy, đến thời điểm hiện nay, bà H vẫn là người mất năng lực hành vi dân sự do Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS nêu trên chưa bị hủy bỏ, nên khi tiến hành tố tụng thì bà H phải có người giám hộ theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của bà C5, bà H cùng trả lời của UBND phường T là chưa tìm được cá nhân tổ chức phù hợp để đăng ký giám hộ cho bà H (bút lục số 780) nên để bà H tham gia tố tụng mà không có người giám hộ là chưa đúng quy định tại Điều 47 của Bộ luật Dân sự, chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự.
(ii). Quá trình tố tụng, Thư ký vụ án được thay đổi từ Thư ký Đặng Thị Thu H3 sang Thư ký Lê Thị N3, từ Thư ký Lê Thị N3 sang Thư ký Bùi Công T6, từ Thư ký Bùi Công T6 sang Thư ký Nguyễn Cảnh K1, từ Thư ký Nguyễn Cảnh K2 sang Thư ký Vương Thái T7 nhưng không có quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng từ Thư ký Nguyễn Cảnh K2 sang Thư ký Vương Thái T7.
Quá trình tố tụng, Kiểm sát viên ban đầu là bà Bùi Thị Xuân T8, tiếp theo là ông Bùi Văn H4, sau cùng là bà Nguyễn Ngọc H5 nhưng không có quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng từ Kiểm sát viên Bùi Thị Xuân T8 sang Kiểm sát viên Bùi Văn H4.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, cần hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại, kháng cáo của bị đơn bà H là có cơ sở chấp nhận một phần.
3. Bản án dân sự phúc thẩm số 162/2025/DS-PT ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nội dung hủy án:
(i). Ngày 13/10/2023, ông Lục Gia C và bà Phan Thị H có đơn yêu cầu độc lập tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/5/2023 giữa ông Lâm Văn K với ông Lục Gia C. Ngày 8/5/2024, bà Võ Thị T có đơn khởi kiện bổ sung tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/5/2023 giữa ông Lâm Văn K với ông Lục Gia C. Sau khi thụ lý yêu cầu độc lập của ông C, bà H và yêu cầu bổ sung của bà T, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thông báo cho bị đơn biết mà tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo đơn xin vắng mặt ngày 12/9/2023 của ông Nguyễn Đình P mà không tiến hành tống đạt cho bị đơn là vi phạm các Điều 170, 177, 196, 199 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo quyết định phân công kiểm sát viên ngày 5/6/2023 (bút lục 28) và quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 02/7/2024 (bút lục 157) thì kiểm sát viên là bà Đinh Thị Y nhưng kiểm sát viên tham gia phiên tòa là bà Nguyễn Thị Thanh B mà không có quyết định thay đổi kiểm sát viên là vi phạm Điều 62 của Bộ luật tố tụng dân sự.
(ii). Trước đây, bà Võ Thị T có nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị H1 và ông Phạm Văn K1 phần đất có diện tích 1.082,6m² thuộc thửa đất số 766, tờ bản đồ số 34 tại ấp H, xã M, huyện D nhưng không lập hợp đồng chuyển nhượng mà bà H1 và ông K1 đã ủy quyền cho bà T toàn quyền quyết định đối với thửa đất này theo hợp đồng ủy quyền số 05813, quyền số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/5/2022 của Văn phòng C2, tỉnh Bình Dương. Ngày 16/5/2023, bà T có vay ông Lâm Văn K 200.000.000 đồng với lãi suất 2,5%/ tháng, thời hạn vay 3 tháng và cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên. Để làm tin, ông K có yêu cầu bà T ký hợp đồng ủy quyền số 02642, quyền số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/5/2023 của Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương. Ngày 18/5/2023, ông K và ông Lục Gia C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất trên với giá 100.000.000 đồng và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện D chứng thực số 120 quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD. Trên thực tế, giá chuyển nhượng giữa ông K và ông C là 450.000.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng ủy quyền số 02642, quyền số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/5/2023 của Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương là giả tạo nhằm che giấu việc vay tiền nhưng lại xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng ủy quyền, yêu cầu văn bản công chứng vô hiệu, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là chưa chính xác và thiếu quan hệ tranh chấp. Quan hệ tranh chấp: “tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm lại ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn hủy hợp đồng ủy quyền số 02642, quyển số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/5/2023 của Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương mà không giải quyết hợp đồng vay tài sản là chưa giải quyết triệt để vụ án.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng ủy quyền số 02642, quyển số 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/5/2023 của Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương là vô hiệu do giả tạo nhưng lại công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/5/2023 giữa ông Lâm Văn K và ông Lục Gia C được Ủy ban nhân dân xã M, huyện D chứng thực số 120 quyền số 01/2023-SCT/HĐ,GD có hiệu lực là không chính xác vì hợp đồng chuyển này dựa trên hợp đồng ủy quyền giả tạo, các đương sự chuyên nhượng qua lại cho nhau nhiều lần nhưng làm hợp đồng ủy quyền nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, giả tạo về giá chuyên nhượng.
Đối với ông Lâm Văn K, thừa nhận có cho bà T vay tiền và thế chấp quyền sử dụng đất bằng hợp đồng ủy quyền. Sau đó, ông K chuyển nhượng phần đất này cho ông C khi chưa được sự đồng ý của bà T. Hành vi của ông K có dấu hiệu của tội xâm phạm sở hữu nên khi giải quyết lại cấp sơ thẩm cần làm rõ dấu hiệu trên.
(iii). Từ những phân tích ở mục [1] và [2], do Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và đường lối giải quyết vụ án nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Bản án dân sự phúc thẩm số 939/2024/DS-PT ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp quyền sở hữu nhà, yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền, yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu, yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà vô hiệu, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
Nội dung hủy án:
(i). Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại Điều 268 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
“1. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai;
2. Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự”.
Điều 38 Nghị quyết số: 05/2012/NQ-HĐTPgày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chỉ được sửa chữa, bổ sung bản án trong các trường hợp sau đây:
“a) Phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả như: Lỗi do viết không đúng từ ngữ, dấu, chữ viết hoa, viết thường, phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, bỏ sót không ghi tên đệm trong họ, tên của đương sự,…b) Số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai (kể cả án phí) như: cộng, trừ, nhân, chia sai,… mà phải sửa lại cho đúng.”.
Tại Quyết định sửa chữa bổ sung ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Bổ sung vào dòng thứ 5 từ trên xuống, trang 15 của Bản án dân sự sơ thẩm số 707/2023/DS-ST ngày 16/5/2023 như sau: “Buộc ông Trần Lê T và bà Lê Thị Thúy H2 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Trương Quốc H và bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên S2 tiền 1.700.000.000 đồng đã nhận và bồi thường thiệt hại là 3.836.500.000 đồng, tổng cộng là 5.536.500.000 đồng. Kể từ ngày ông Trương Quốc H và bà Nguyễn Thị Mỹ D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Lê T và bà Lê Thị Thúy H2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”.
Xét thấy, trong biên bản nghị án ngày 16/5/2023 của Hội đồng xét xử và bản án gốc ngày 16/5/2023 của Hội đồng xét xử không có nội dung như quyết định sửa chữa, bổ sung nêu trên. Nhưng ngày 29/5/2023, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 268 Bộ luật tố tụng dân sự ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm nội dung như trên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với nội dung này là có căn cứ.
(ii). Về nội dung kháng cáo:
Nguyên đơn khởi kiện cho rằng ông H và bà D nhận chuyển nhượng căn nhà số I của ông T và bà H2, hai bên có lập hợp đồng mua bán nhà được Văn phòng đăng ký đất đai cập nhật sang tên ngày 12/10/2012. Tuy nhiên thời gian kéo dài ông T, bà H2 không giao nhà. Sau đó ông H và bà D được biết gia đình ông B đang quản lý sử dụng nhà. Nên ông H và bà D khởi kiện yêu cầu gia đình ông B giao căn nhà cho ông H, bà D.
Ngày 27/9/2006, bị đơn ông Trịnh Văn B và bà Bùi Mỹ Ú lập hợp đồng tặng cho ông Trịnh Hoàng S1 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà để ông S1 làm thủ tục vay tiền tại ngân hàng. Đến tháng 10 năm 2008, bà Bùi Mỹ Ú bệnh nặng cần tiền điều trị nên ông S1 nhờ ông C1 làm thủ tục thế chấp vay tiền. Ngày 10/10/2008, ông S1 ủy quyền cho ông C1 để làm thủ tục vay 200.000.000 đồng. Đến tháng 9 năm 2009, ông S1 tiếp tục nhờ ông C1 làm thủ tục đáo hạn ngân hàng nên ông C1 mượn tiền trả số tiền vay 200.000.000 đồng tại ngân hàng, sau đó ông C1 yêu cầu ông S1 lập hợp đồng ủy quyền cho ông C1 đối với quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, sau khi ông S1 ký hợp đồng ủy quyền thì ông C1 lập hợp đồng tặng cho ông Vũ Đức K, sau đó ông K lại ủy quyền cho ông C1 bán nhà đất cho ông T và bà H2. Ông T và bà H2 ủy quyền cho bà T3 bán nhà đất cho ông H và bà D.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Lê T, bà Lê Thị Thúy H2 khai, ông Bùi Ngọc C1 là chú họ của ông T, bà H2. Ông C1 có nhờ ông T, bà H2 đứng tên nhà, sau đó ông T và bà H2 ký hợp đồng ủy quyền để bán nhà cho người khác. Đối với phần tiền bán nhà bà H2 và ông T không có sử dụng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Ngọc C1, ông Vũ Đức K vắng mặt.
Xét thấy, ngày 27/01/2006, tại phòng C2 Thành phố Hồ Chí Minh, ông Trịnh Văn B và vợ là bà Bùi Mỹ Ú lập hợp đồng tặng cho ông Trịnh Hoàng S1 đối với quyền sử dụng đất thửa 305 tờ bản đồ số 35 diện tích 463,00m2 và căn nhà trên đất toạ lạc tại số I H, ấp F, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó ông Trịnh Hoàng S1 kê khai đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ngày 19/5/2008. Đến ngày 08/10/2009, tại phòng C4 Thành phố Hồ Chí Minh, ông Trịnh Hoàng S1 lập hợp đồng ủy quyền cho ông Bùi Ngọc C1 với nội dung: bên B (ông C1) được quyền thay mặt và nhân danh bên A (ông S1) quản lý, sử dụng, xây dựng, cho thuê, thế chấp, thế chấp để bảo lãnh, bán hoặc tặng cho căn nhà số I H, ấp F, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng ngày 08/10/2008, ông Bùi Ngọc C1 lập hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho ông Vũ Đức K đối với nhà ở và đất ở tại số I H, ấp F, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 03/11/2009, ông Vũ Đức K được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà và đất tại số I H, ấp F, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 02/3/2010, ông K tiếp tục ủy quyền cho ông Bùi Ngọc C1 để ông C1 thực hiện việc chuyển nhượng cho ông T, bà H2. Do đó ngày 05/3/2010 ông C1 lập hơp đồng mua bán cho ông Trần Lê T và ông T thực hiện chuyển nhượng nhà, đất cho ông H.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ, đối chất giữa ông C1 và ông S1 để làm rõ nội dung ủy quyền giữa ông S1 và ông C1 theo Hợp đồng ủy quyền số 036511 ngày 08/10/2009 ký kết giữa ông Trịnh Hoàng S1 với ông Bùi Ngọc C1 lập tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền số 036511 ngày 08/10/2009 ký kết giữa ông Trịnh Hoàng S1 với ông Bùi Ngọc C1 lập tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh là chưa đủ căn cứ.
Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2012 của Công an huyện N (Bút lục số 21) ông K khai ông C1 nhờ ông K đứng tên dùm nhưng sau đó ông C1 yêu cầu ông K ủy quyền lại cho ông C1 để ông C1 chuyển nhượng nhà, đất cho ông T, bà H2. Nội dung ủy quyền giữa ông K và ông C1 cũng chưa được làm rõ.
Ngoài ra, việc bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông Trương Quốc H nhận chuyển nhương nhà đất của ông T và bà H2 là ngay tình, khi ông H và bà D nhận chuyển nhượng nhà, đất thì ông T và bà H2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH00089 ngày 19/4/2010 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Trần Lê T và bà Lê Thị Thúy H2. Còn ông T và bà H2 kháng cáo thì cho rằng ông C1 nhờ đứng tên dùm căn nhà sau đó ông C1 yêu cầu ủy quyền cho bà T3 để bà T3 lập hợp đồng mua bán nhà với ông H và bà D nên bà H2 và ông T không có nhận tiền. Do đó cần xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ việc giao nhận tiền mua nhà của ông H, bà D mới đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 00691 ngày 12/01/2012 giữa ông Trần Lê T và bà Lê Thị Thúy H2 do bà Lê Thị Kim T3 đại diện với bà Nguyễn Thị Mỹ D lập tại Phòng Công chứng số 7 Thành phố C3 vô hiệu là chưa đủ căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông H và bà D.
Do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và việc thu thập chức cứ chưa đầy đủ. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
5. Bản án dân sự phúc thẩm số 209/2024/DS-PT ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nội dung hủy án:
(i). Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng ủy quyền Công chứng số 019941, quyển số 16TP/SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng Công chứng T, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 30/12/2019 giữa bà C với ông S là vô hiệu; yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ được ủy quyền và yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng Công chứng T công chứng ngày 03/01/2020 ký giữa ông S với ông H1. Bị đơn có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án buộc bà C phải trả số tiền vay là 1.339.000.000 đồng (một tỷ ba trăm ba mươi chín triệu đồng); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 21/9/2023 là 10.817.622.716 đồng (mười tỷ tám trăm mười bảy triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm mười sáu đồng) và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ khi Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng ủy quyền, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng là phù hợp tuy nhiên còn xác định thiếu quan hệ pháp luật tranh chấp là yêu cầu bồi thường thiệt hại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo yêu cầu phản tố của bị đơn.
(ii). Nguyên đơn yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng ủy quyền theo số 019941, quyển số 16TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng Công chứng T, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 30/12/2019 và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD758385 (số cấp GCN: CH09473) do UBND thị xã D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 10/6/2016, đăng ký biến động lần cuối ngày 10/01/2020 giữa ông Trần Ngọc Đình S với ông Hồ Sỹ H1 do Văn phòng Công chứng T công chứng ngày 03/01/2020. Tòa án cấp sơ thẩm lấy ý kiến của Văn phòng Công chứng T về hợp đồng ủy quyền mà không lấy ý kiến về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không đưa Văn phòng Công chứng T tham gia tố tụng trong vụ án với lý do các bên không có yêu cầu gì đối với Văn phòng công chứng là xác định thiếu tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(iii). Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S được Toà án cấp sơ thẩm xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là bên vay theo hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP N. Theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bút lục 124) thì thành viên góp vốn của công ty gồm có ông Nguyễn Duy T2 và ông Hồ Sỹ H1 và ông T2 được xác định là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trong hợp đồng tín dụng và giấy xác nhận nợ với Ngân hàng TMCP N (bút lục 137-140) ông Nguyễn Duy T2 là người ký bên vay (bên được cấp tín dụng). Toà án cấp sơ thẩm không xác định ông Nguyễn Duy T2 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S để đưa ông T2 tham gia tố tụng là có thiếu sót trong việc xác định người đại diện tham gia tố tụng trong vụ án, vi phạm Điều 68, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã xác định người đại diện theo pháp luật của Công ty và triệu tập hợp lệ đối với ông Nguyễn Duy T2 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S, tuy nhiên ông T2 vắng mặt không có lý do chính đáng nên Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt ông T2.
(iv). Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn cung cấp cho Tòa án 01 giấy cam kết của ông Lại Xuân T ngày 17/8/2019 (bút lục 109) có nội dung cam kết chậm nhất đến ngày 24/8/2019 ông T trả lại cho ông Lê Huy M1 số tiền 610.000.000 đồng; 01 giấy cam kết của bà Vũ Thị C đề ngày 20/8/2019 (bút lục 110) có nội dung: Nếu đến ngày 24/8/2019 ông T chưa thanh toán số tiền 610.000.000 đồng cho ông M1 thì bà C sẽ thanh toán toàn bộ số tiền trên cho ông M1 thay ông T. Tại bản tự khai ông Lê Huy M1 (bút lục 538) xác định ông có cho ông T vay số tiền 610.000.000 đồng, sau đó do có mối quan hệ quen biết giữa ông S, bà C, ông T và ông M1 (ông S gọi ông M1 là dượng) nên ông M1, ông T, bà C có thỏa thuận để ông S nhận tiền từ bà C hoặc ông T sau đó trả lại cho ông M1. Ông M1 xác nhận đến nay ông T, bà C đã trả được cho ông M1 số tiền 510.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà C với ông S không liên quan đến ông M1 nên ông M1 đề nghị Tòa án không triệu tập ông tham gia tố tụng trong vụ án này. Tuy nhiên, theo lời khai của bị đơn xác định đã chuyển khoản đủ 610.000.000 đồng cho ông Lê Huy M1. Tòa án sơ thẩm xác định ông S đã trả 510.000.000 đồng thay cho bà C nên bà C phải có trách nhiệm trả cho ông S số tiền này. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định do ông M1 xác định ông M1 không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này nên không đưa ông M1 vào tham gia tố tụng, đồng thời tuyên ông M1 có quyền khởi kiện ông T, bà C thành vụ án khác là chưa phù hợp vì khoản tiền nợ có liên quan đến quyền lợi của ông M1, khi giải quyết khoản nợ này phải xác định ông M1 có tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(v). Về Hợp đồng ủy quyền số 019941, quyển số 16TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng Công chứng T, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 30/12/2019 (bút lục 05, 06): nguyên đơn và bị đơn đều xác định mục đích ký kết hợp đồng ủy quyền là để bị đơn thực hiện thủ tục xóa nợ xấu cho nguyên đơn tại E, sau đó bị đơn sẽ đưa tài sản của nguyên đơn vào công ty để tiếp tục thế chấp vay được số tiền cao hơn mà không cần bán tài sản theo thủ tục xử lý nợ xấu của Ngân hàng. Như vậy, hợp đồng ủy quyền được ký kết theo ý chí tự nguyện của các bên tham gia và để thực hiện thủ tục tất toán khoản vay thì phải có tiền để trả cho E lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra thế chấp cho Ngân hàng khác vay số tiền cao hơn. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đây là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản giữa ông S và bà C nên hợp đồng ủy quyền vô hiệu theo Điều 124 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này, giao dịch vay tiền và hợp đồng ủy quyền thực hiện các thủ tục tất toán có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu nguyên đơn không có ủy quyền cho ông S và ông S không cho nguyên đơn vay tiền thì sẽ không tất toán được khoản nợ ở E. Do đó, cần xem xét hình thức và nội dung hợp đồng có phù hợp quy định pháp luật hay không, đánh giá xem có đúng ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia hợp đồng ủy quyền để xem xét tính có hiệu lực của hợp đồng. Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn thì có cơ sở xác định việc ký kết hợp đồng ủy quyền phát sinh trước, sau đó bị đơn mới chuyển tiền cho nguyên đơn vay, thay nguyên đơn trả nợ E và trả nợ cho ông M1. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, khi được hỏi về tính pháp lý của hợp đồng ủy quyền thì người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng xác định hợp đồng ủy quyền có hiệu lực nhưng do Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc nguyên đơn trả tiền cho bị đơn nên bị đơn không có kháng cáo. Về phía nguyên đơn thì xác định hợp đồng ủy quyền vô hiệu do bị đơn thực hiện trái với thỏa thuận ban đầu là khi có bất kỳ giao dịch gì phát sinh phải báo cho nguyên đơn biết và có nguyên đơn tham gia giao dịch nhưng bị đơn đã tự ý giao dịch, không thông báo cho nguyên đơn đã gây thiệt hại đến quyền lợi của nguyên đơn nên các giao dịch của nguyên đơn và bị đơn vô hiệu kéo theo giao dịch giữa bị đơn với bên thứ ba cũng phải vô hiệu và bị đơn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn do thực hiện sai công việc được ủy quyền, đồng thời nguyên đơn thừa nhận nguyên đơn có nhận tiền của bị đơn cho vay và trả nợ giùm nguyên đơn nhưng chưa nhận đủ số tiền theo sự thỏa thuận ban đầu. Như vậy, việc phát sinh các khoản nợ vay không bị che giấu bởi hợp đồng ủy quyền mà từ hợp đồng ủy quyền mới phát sinh hợp đồng vay. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng ủy quyền vô hiệu do che giấu giao dịch vay tiền và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền giữa nguyên đơn và bị đơn đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả nợ khoản tiền nguyên đơn vay của bị đơn là chưa đánh giá đúng bản chất vụ việc. Trường hợp này, cần xác định lại hình thức, nội dung hợp đồng ủy quyền giữa ông B và bà C; hợp đồng ủy quyền giữa bà C và ông S có đúng quy định của pháp luật không, có đúng ý chí của các bên hay không và các bên đã thực hiện đúng theo nội dung ủy quyền không; hợp đồng ký trước khi tất toán khoản vay có sự đối lập quyền lợi giữa người ủy quyền là nguyên đơn và người nhận ủy quyền là bị đơn hay không. Để ký kết hợp đồng ủy quyền thì có cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không trong khi quyền sử dụng đất đang bị thế chấp tại E để từ đó xác định hợp đồng có hiệu lực hay vô hiệu và trách nhiệm của các bên trong việc ký kết thực hiện hợp đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng là còn thiếu sót trong đánh giá chứng cứ.
(vi). Tòa án cấp sơ thẩm xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông H1, bà P, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền vay chênh lệch là 2.626.917.091 đồng giữa khoản nợ E và khoản nợ vay Ngân hàng N của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S là chưa phù hợp với các tình tiết trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm có thu thập chứng cứ tại các Ngân hàng như Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh B và Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh N về hợp đồng vay tài sản giữa Công ty Nam Sơn Việt và các Ngân hàng (bút lục 478- 479) nhưng chưa đầy đủ để xác định được số tiền vay, người nhận tiền vay, số tiền tất toán tại các Ngân hàng này là như thế nào. Trong trường hợp này, cần xác minh thu thập chứng cứ liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất sau khi ông H1, bà P ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hồ sơ vay của Ngân hàng N và các Ngân hàng khác có liên quan đến tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng để xác định trách nhiệm của các bên tham gia các giao dịch đồng thời xác định lỗi của các bên dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu sau đó xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự mới đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.
(vii). Ngoài ra, đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn do vi phạm nghĩa vụ được ủy quyền với số tiền đền bù là 3.214.166.000 đồng tính theo lãi suất vay Ngân hàng là 9,5%/năm trên giá trị tài sản được ủy quyền là 14.000.000.000 đồng tại thời điểm tháng 01/2020 và thời gian tính đền bù đến hiện tại là 29 tháng. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định không có cơ sở chấp nhận nhưng tại phần quyết định không tuyên về việc không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có thiếu sót.
(viii). Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Bị đơn yêu cầu nguyên đơn thanh toán tiền gốc là 757.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng là 582.000.000 đồng; tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn chỉ yêu cầu nguyên đơn thanh toán số tiền gốc và lãi 1.330.756.840 đồng trong đó nợ gốc là 735.647.527 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng tính đến ngày 13/9/2023 là 595.109.313 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày được ghi nhận trong biên bản phiên tòa sơ thẩm (bút lục 658) như sau: Trước khi ký hợp đồng ủy quyền, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận bị đơn đồng ý ứng tiền bỏ vào Ngân hàng tất toán và nguyên đơn đồng ý với lãi suất 4%/tháng, sau đó thỏa thuận thống nhất bị đơn bỏ ra bao nhiêu tiền thì thông báo cho nguyên đơn biết số tiền cụ thể, còn thỏa thuận vay 6.000.000.000 đồng là ngoài số tiền nộp vào Ngân hàng còn một khoản chi phí để làm hồ sơ góp vốn và hồ sơ thế chấp, tổng chi phí bị đơn xác định là 6.000.000.000 đồng. Nguyên đơn có ký giấy xác nhận nợ khoản 6.000.000.000 đồng này nhưng bị đơn không cung cấp cho Tòa án (bút lục 655). Kèm theo đơn phản tố bị đơn không có chứng cứ nào chứng minh việc vay mượn 6.000.000.000 đồng giữa hai bên. Trong tài liệu do nguyên đơn cung cấp có bảng tạm tính nợ gốc và lãi (bút lục 84) và công nợ bà C – anh Hóa (bút lục 86) có nhắc đến “chủ tiền” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ “chủ tiền” là ai, có phải là ông H1, bà P hay người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S hoặc người khác, vai trò của “chủ tiền” trong mối quan hệ giữa bà C và ông S ra sao và giao dịch vay giữa nguyên đơn và bị đơn như thế nào nhưng lại chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn tính lãi trên số tiền 6.000.000.000 đồng và buộc ông H1, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S, ông H1, bà P phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn 2.626.917.091 đồng trong khi chưa có chứng cứ chứng minh mối quan hệ thỏa thuận cho vay tiền giữa các bên liên quan đến nguyên đơn là chưa có cơ sở vững chắc.
Từ những phân tích trên, do Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu tư cách của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vụ án, thu thập và đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, chưa giải quyết triệt để hậu quả của các giao dịch mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H1 và bà P, hủy bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố D giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.
6. Bản án dân sự phúc thẩm số 505/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nội dung hủy án:
Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu, bị đơn không đồng ý làm đơn phản tố nên Tòa án cấp sơ thẩm giành cho các đương sự khởi kiện bằng vụ kiện khác. Xét, tại khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Dân sự quy định “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”. Đối chiếu quy định trên, thì giao dịch vay mượn giữa nguyên đơn và bị đơn vẫn có hiệu lực, bà B đã có ý kiến khi hủy hợp đồng phải trả lại số tiền vay nên không cần phản tố, hợp đồng vay tiền phải được xem xét, giải quyết trong cùng vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm nếu xem xét, giải quyết là không đảm bảo 02 cấp xét xử theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
7. Bản án dân sự phúc thẩm số 137/2023/DS-PT ngày 17/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Nội dung hủy án:
(i). Xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Y cung cấp rất nhiều giấy nhận tiền cụ thể vào ngày 14/6/2019 có nội dung do bà Y viết “ 1.Tôi là Nguyễn Thị B, tôi tự đồng ý ủy quyền cho con tôi là Đoàn Hồng Hoàng T để nhận tiền cô Nguyễn Thị Bạch Y. 2. Tôi là Đoàn Hồng Hoàng T có nhận chị Yến 2 tỷ 970 triệu, mẹ con tôi bán cho cô Nguyễn Thị Bạch Y 2 thửa đất 139 và thửa 150, tôi và con tôi sẽ giao nhà đất cho cô Yến y hẹn” và Giấy nhận tiền ngày 28/11/2019 do bà Y viết có nội dung “Tôi là Đoàn Hồng Hoàng T, tôi chở má tôi là bà B để nhận số tiền 2 tỷ 800 triệu đồng”. Xét thấy, theo lời trình bày của bà Y khai có lúc giao cho bà B và ông T 6 tỷ đồng, có lúc lại khai tổng số tiền đưa cho bà B và ông T là 5.770.000.000đồng, nhưng theo các giấy nhận tiền do bà Y cung cấp có chữ ký ghi tên Trắng nhưng ông T không thừa nhận chữ ký thể hiện ngày 14/6/2019 giao 2 tỷ 970, ngày 28/11/2019 giao 2 tỷ 800 và lời trình bày của ông T thừa nhận đã nhận từ bà Y 3 lần cụ thể theo biên bản đối chất ngày 21/6/2022 thể hiện lần 1 nhận 200.000.000đồng, lần 2 là 150.000.000đồng và lần tiếp theo là 30.000.000đồng, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông T lại khai số tiền ông đã nhận từ bà Y khoảng 700 - 800 triệu đồng. Xét thấy, số tiền các bên trình bày không phù hợp và có sự mâu thuẫn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa đối chất hết để làm rõ mà giải quyết vụ án là chưa đánh giá hết chứng cứ của vụ án và giải quyết vụ án là chưa toàn diện.
(ii). Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hoàng Hiệp trình bày trên thửa đất số 150 có căn nhà thờ và hiện có nhiều người đang cùng sinh sống gồm bà B, ông Hoàng Hiệp và vợ là Trần Thị Thu Hà, bà Loan, ông Hoàng Mỹ và bà Đoàn Thị Thúy Liễu. Tuy nhiên, Tòa cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án chưa triệu tập ông Hoàng, bà Phượng cũng như bà Liễu để lấy lời khai và xác minh có hay không việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hoàng, bà Phượng với bà Bạch Yến và ông Quang Luật là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
(iii). Ngoài ra, tại phiên tòa phúc phẩm phát sinh tình tiết mới là ông Trần Minh Hải có mặt xác định là ông Hải có nhận chuyển nhượng của bà Y hai thửa đất số 150 diện tích 1.243m2 và thửa đất 139 diện tích 932m2 ông đã ký hợp đồng đặt cọc ngày 20/6/2020 và Giấy thỏa thuận bán nhà đất và ruộng ngày 20/6/2020, ông đã đặt cọc cho bà Y 4,5 tỷ, số tiền còn lại 1,5 tỷ ông sẽ giao đủ khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Y, khi ông ký hợp đồng đặt cọc với bà Y thì bà Y đã đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) cho ông giữ, nhưng sau đó bà Y xin mượn lại nói để làm trích lục nên chỗ quen biết nên ông cho bà Y mượn lại giấy đến nay bà Y chưa trả lại. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án giữa bà Y và bà B, Tòa án không mời ông tham gia tố tụng nên ông không biết quyền sử dụng đất ông nhận chuyển nhượng từ bà Y đang tranh chấp, việc tranh chấp này ảnh hưởng đến quyền lợi của ông, do đó ông Hải yêu cầu Tòa án đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này, để có yêu cầu độc lập đề nghị giải quyết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà Y trong cùng vụ án này. Như vậy, việc giải quyết vụ án này liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Minh Hải, nhưng ông Hải chưa được Tòa án cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Hải.
Từ những phân tích trên: Xét thấy, do phát sinh tình tiết mới tại Tòa án cấp phúc thẩm, cần phải đưa đầy đủ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, đối chất làm rõ số tiền các bên giao nhận, làm rõ trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các bên khi xác lập các giao dịch dân sự có liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại hai thửa đất số 139 và 150, nên cần phải hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
8. Bản án dân sự phúc thẩm số 500/2024/DS-PT ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp tài sản
Nội dung sửa án:
Tòa án cấp phúc thẩm, nhận thấy các giao dịch ủy quyền sử dụng đất giữa ông T với bà C; giữa bà C chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B là giả tạo nên vô hiệu. Do đó, việc ông Phan Văn T tự nguyện thanh toán tiền toàn bộ tiền vay gốc và lãi của Công ty TNHH MTV M (do ông B là Giám đốc) cho Ngân hàng TMCP H1 và Ngân hàng TMCP H1 trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH576062 (số vào sổ H01316) cấp ngày 02/02/2007 cho bà K, bà T3 là không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nên Tòa án ghi nhận sự tự nguyện này.
Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm.
9. Bản án dân sự phúc thẩm số 54/2023/DS-PT ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền
Nội dung sửa án:
(i). Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng ủy quyền quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên.
Bị đơn kháng cáo và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm được chấp nhận trong hạn luật định, nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tuy nhiên, việc tòa án cấp sơ thẩm sau khi xét xử sơ thẩm và tuyên án ngày 29/9/2022 nhưng không giao bản án cho đương sự là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự, đến ngày 07 tháng 02 năm 2023 mới tiến hành giao bản án cho bị đơn (BL:101b) sau 3 tháng 27 ngày là vi phạm thủ tục tố tụng dân sự.
(ii). Theo khoản 1 Điều 569 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền: “1. Trường hợp ủy quyền có thù lao thì bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyền tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại, nếu ủy quyền không có thù lao thì bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý”.
Bà P và ông T1 đã có thông báo về việc hủy hợp đồng ủy quyền ngày 19/02/2019 cho ông T vào ngày 08/11/2021, nhưng ông T không nhất trí.
Nay bà P, ông T1 không đồng ý việc ủy quyền cho ông T, có đơn khởi kiện tại tòa án đề nghị tuyên buộc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng ủy quyền số công chứng 284, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/02/2019 giữa ông T1, bà P và ông T được lập tại văn phòng C là phù hợp với khoản 4 Điều 422 Bộ luật dân sự 2015 quy định về chấm dứt hợp đồng: “... 4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện” .
Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt hợp đồng là một trong những trường hợp làm chấm dứt hợp đồng đã thỏa thuận, tuy nhiên phần hợp đồng đã được thực hiện có giá trị pháp lý, chỉ phần hợp đồng chưa thực hiện mới không có giá trị pháp lý. Trong trường hợp này sau khi ký kết hợp đồng ủy quyền nêu trên, ông T1 bà P vẫn đang trực tiếp sử dụng đất, trực tiếp quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T cũng thừa nhận ông chưa thực hiện bất cứ công việc ủy quyền nào từ hợp đồng ủy quyền giữa ông T1 và bà P với ông T. Đây là hợp đồng ủy quyền không có thù lao, ông T cũng thừa nhận chưa nhận bất cứ khoản tiền thù lao nào từ ông T1, bà P. Do đó có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, cần chấm dứt hợp đồng ủy quyền nêu trên giữa ông T1 và bà P với ông T là phù hợp quy định của pháp luật;
Về thời điểm chấm dứt thực hiện hợp đồng, tại khoản 3 Điều 428 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “… 3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp…”
Như vậy, thời điểm chấm dứt thực hiện hợp đồng kể từ thời điểm bà P và ông T1 đã có văn bản thông báo về việc hủy hợp đồng ủy quyền gửi ông T ngày 08/11/2021, thông báo về việc bà P và ông T1 đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền nêu trên và đề nghị ông T không thực hiện bất cứ công việc gì theo nội dung ủy quyền nữa kể từ ngày 08/11/2021. Tại phiên tòa phúc thẩm ông T xác định đã nhận được thông báo của bà P, ông T1 gửi qua đường bưu điện ngày 08/11/2021.
Việc tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng ủy quyền giữa ông T1 và bà P với ông T ngày 19/02/2019 của văn phòng C có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật (trang 5 bản án số 22 nêu trên) là không chính xác, ngoài ra phần quyết định bản án tuyên “... chấm dứt việc thực hiện hợp đồng ủy quyền... kể từ ngày xét xử sơ thẩm” cũng không chính xác như đã phân tích nêu trên, tòa án cấp phúc thẩm cần sửa bản án mới bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Do đó không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Minh T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2022/DSST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
10. Bản án dân sự phúc thẩm số 458/2023/DS-PT ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nội dung sửa án:
(i). Trong quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm, ông S, ông H, ông D, ông H1, ông Đ2 có nhiều bản khai, văn bản trình bày yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết: “không công nhận hợp đồng đặt cọc và hứa chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D và bà L ký ngày 14/8/2012” là yêu cầu không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn khởi kiện do đó Tòa án cấp sơ thẩm cần phải thực hiện thủ tục thông báo nộp tạm ứng án phí và thụ lý yêu cầu phản tố theo quy định tại 72, 146, 150, 199, 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 293 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại yêu cầu tranh chấp và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét và giải quyết hậu quả đối với yêu cầu này. Do đó, các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác nếu còn thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
(ii). Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thái Minh S, ông Thái Văn H, ông Thái Văn D, ông Thái Minh H1, ông Thái Minh Đ2, ông Thái Hà Hoài N, bà Thái Hà Hoài T2 sửa bản án sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 9353 quyển số 10/2011/TP/VPCCSCC/HĐGD ngày 28/12/2011 tại Văn phòng công chứng L giữa ông Thái Văn C và bà Đặng Thị Đ1 với ông Thái Văn D đối với thửa đất số 273, diện tích 653m2 và thửa đất số 275, diện tích 1.202m2, TBĐ số 9, mục đích sử dụng: M, tọa lạc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 461764, vào sổ cấp GCN số 528QSDĐ/đợt 2/1998 do UBND huyện Hóc Môn cấp cho ông Thái Văn C ngày 18/7/1998) vô hiệu phần nội dung ghi thêm “1-Tôi ghi thêm: chuyển nhượng, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng” và “2) Tôi ghi thêm: xin cấp đổi giấy chứng nhận” tại hợp đồng ủy quyền công chứng số 9353 ngày 28/12/2011 được lập tại Văn phòng công chứng L; tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 936, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/3/2013 tại Văn phòng công chứng Đ giữa ông Thái Văn C, bà Đặng Thị Đ1 (do ông Thái Văn D đại diện theo ủy quyền) với bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với thửa đất số 273, diện tích 653m2 và thửa đất số 275, diện tích 1.202m2, TBĐ số 9, mục đích sử dụng: M, tọa lạc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 461764, vào sổ cấp GCN số 528QSDĐ/đợt 2/1998 do UBND huyện Hóc Môn cấp cho ông Thái Văn C ngày 18/7/1998) vô hiệu; Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc L có trách nhiệm giao trả lại cho người đại diện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C và bà Đ1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 461764, vào sổ cấp GCN số 528QSDĐ/đợt 2/1998 do UBND huyện Hóc Môn cấp cho ông Thái Văn C ngày 18/7/1998. Trường hợp bà L không hoàn trả hoặc đã mất những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C và bà Đ1 có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận này và thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận mới theo quy định của pháp luật; Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc L về việc buộc ông Thái Văn C, bà Đặng Thị Đ1 (do các ông Thái Minh S, Thái Văn H, Thái Văn D, Thái Minh Đ2, Thái Minh H1 kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), các ông, bà Thái Minh H1, Lại Thị Ngọc N1, Thái Thị Thùy T, Thái Minh V, Hoàng Thị Mỹ H2, cháu Thái Anh K (do bà Hoàng Thị Mỹ H2 đại diện theo pháp luật), Thái Văn H, Hà Thị Lệ T1, Thái Hà Hoài T2 và những người đang sinh sống trên đất có nghĩa vụ bàn giao thửa đất số 273, 275 nói trên và tài sản gắn liền với hai thửa đất cho bà Nguyễn Thị Ngọc L, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 461764, vào sổ cấp GCN số 528QSDĐ/đợt 2/1998 do UBND huyện Hóc Môn cấp cho ông Thái Văn C ngày 18/7/1998 và Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số hợp đồng 107742/TTĐĐBĐ-CNHM ngày 16/6/2021 của Trung tâm đo đạc; Các đương sự có quyền khởi kiện tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có chứng cứ chứng minh và còn thời hiệu khởi kiện theo quy định pháp luật.