Tổng hợp 10 bản án hủy, sửa về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

MỤC LỤC

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 100/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm do người chết để lại

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 345/2025/DS-PT ngày 11/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 656/2024/DS-PT ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 1199/2023/DS-PT ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 796/2023/DS-PT ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 13/2023/DS-PT ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 137/2021/DS-PT ngày 02/02/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2021/DS-PT ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 610/2020/DS-PT ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

 

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 100/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm do người chết để lại

Nội dung hủy án:

(i) Như vậy, trong yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có yêu cầu buộc Công ty B phải thanh toán số tiền bảo hiểm cho nguyên đơn, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định buộc Công ty B bồi thường số tiền quyền lợi bảo hiểm tử vong là 3.011.882.000 đồng cho nguyên đơn ông Trương Lâm T và Nguyễn Thị Thu N, dẫn đến buộc Công ty B phải chịu số tiền án phí là 97.237.600 đồng là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Công ty B làm cho Công ty B mất quyền đưa ra chứng cứ chứng minh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Tòa án cấp phúc thẩm nếu xem xét, giải quyết là không đảm bảo 02 cấp xét xử theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

(ii) Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận nguyên đơn là người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm của bà H1 và buộc Công ty B phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 3.011.882.000 đồng, trong khi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy các Thông báo điều chỉnh ngày 01/11/2023, Thông báo chấp thuận quyền lợi bảo hiểm ngày 02/11/2023 và nhận định tách số tiền Công ty B đã chi trả cho ông C nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác là mâu thuẫn, giải quyết trùng quyền lợi bảo hiểm của người được thụ hưởng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty B.

(iii) Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bị đơn Công ty B và Quyết định kháng nghị số 61/QĐ KNPT-VKS.TDM của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là có căn cứ chấp nhận.

(iv) Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là không có căn cứ, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Công ty B là có căn cứ.

(v) Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 345/2025/DS-PT ngày 11/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Bản án sơ thẩm nhận định Ông S (người mua bảo hiểm) đã không thực hiện đúng như hợp đồng đã ký kết, vi phạm quy tắc, điều khoản sản phẩm bảo hiểm, vi phạm quy định tại Điều 6.1 và Điều 6.2 của Hợp đồng, nên Công ty B1 từ chối thanh toán là đúng, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty B1 trả số tiền nêu trên là không đủ căn cứ để chấp nhận. Công ty B1 chỉ có nghĩa vụ trả lại nguyên đơn số tiền mà ông S nộp trước đây là đúng với nội dung quy định tại Hợp đồng bảo hiểm là hợp lý và tuyên “Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, về việc yêu cầu Công ty B1 trả tổng số tiền 2.339.500.000 đồng" là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bởi vì, hồ sơ vụ án thể hiện:

Việc ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa nguyên đơn và Công ty TNHH B1 là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trước khi ký kết hợp đồng bảo hiểm thì công ty B1 có ra thư báo ngày 26/3/2019 mời ông S khám sức khỏe tại Bệnh viện Q theo sự chỉ định của công ty B1 và khám trước ngày 25/4/2019. Ông S ký bản cam kết ngày 30/3/2019 chấp thuận cho các bác sĩ và y tá của công ty chỉ định được khám và làm các xét nghiệm có liên quan đến sức khỏe và các kết quả khám y tế này nhằm để phục vụ cho việc thẩm định hồ sơ yêu cầu bảo hiểm (BL 291). Qua kết quả báo cáo khám sức khỏe của bác sĩ ngày 30/3/2019 tại mục d. 5 phần I: khai báo cho bác sĩ: ông S khai đánh dấu vào ô có “có các tổn thương nào ở phổi, ngực, đường hô hấp bao gồm: suyễn, ho kéo dài, ho khạc có máu, viêm phổi, lao" và ông S còn ghi chú thêm “ba năm trước đi khám tại Bệnh viện Đ bị ho, siên, hiện tại không có điều trị và uống thuốc". Bên cạnh đó, tại mục 7 phần I về báo cáo khám sức khỏe của bác sĩ ngày 30/3/2019, ông S khai báo "khoảng hai năm trước có đi khám tại Bệnh viện Đ”. Kết quả khám bệnh tại Bệnh viện Đ từ ngày 28/12/2018 đến ngày 04/01/2019 với chuẩn đoán: “Theo dõi lao phổi cũ tái phát, viêm phổi, sốc nhiễm trùng đã ổn”. Bên cạnh đó, tại câu 6.C mục D của A.3 hồ sơ yêu cầu bảo hiểm ông S ký với công ty B1 ngày 10/3/2019 ông S khai báo đánh dấu vào ô có “Viêm phổi, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, lao phổi" và tại câu 13, ông S ghi “câu 6c: đã từng điều trị bệnh liên quan về phổi cách đây 2 năm" (BL18). Cho nên việc Công ty B1 cho rằng Ông S kê khai không đầy đủ và không trung thực vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm là không có cơ sở. Như vậy, ông S đã khai báo đầy đủ và trung thực với bệnh phổi của ông S nên công ty B1 đồng ý ký kết hợp đồng bảo hiểm với ông S.

(ii) Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày các câu trả lời của ông S trong Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm có trước khi Công ty B1 chỉ định cho ông S đi khám sức khỏe tại tại Bệnh viện Q. Như vậy, nên sau khi nhận các câu trả lời của ông S trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm và kết quả khám sức khỏe của ông S tại Bệnh viện Q, Công ty B1 nhận thấy có nghi ngờ về bệnh của ông S, cần phải thẩm định lại sức khỏe của ông S để tránh rủi ro thì Công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu ông S phải khám lại sức khỏe rồi mới ký hợp đồng, chứ không thể đổ lỗi là do ông S kê khai không trung thực để từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm của ông S là không phù hợp.

(iii) Ngoài ra, tại phần Quyết định Tòa án sơ thẩm áp dụng “... Điều 18.2, Điều 19.2 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 và năm 2019" là không đúng. Bởi vì, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 và năm 2019 không có quy định Điều 18.2, Điều 19.2 như bản án sơ thẩm đã áp dụng.

(iv) Từ những phân tích trên cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm trong việc áp dụng pháp luật và không đánh giá đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm về nội dung. Buộc Công ty TNHH B1 chi trả tiền bảo hiểm gói sản phẩm chính "An Phúc Trọn Đời Ưu V" số tiền bảo hiểm là 1.600.000.000 đồng với mức đóng phí 28.672.000 đồng/năm và sản phẩm bổ sung “Bảo hiểm tử vong và thương tật do tai nạn" là 739.500.000 đồng với mức đóng tiền phí bảo hiểm là 3.357.000 đồng/năm cho người được thụ hưởng là bà Nguyễn Thị N với tổng số tiền phải chi trả là 2.339.500.000 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ.

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 656/2024/DS-PT ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Tuy nhiên, ngày 26/6/2024, Công an thành phố T có Thông báo kết quả xử lý đơn của bà Nguyễn Thị Kim A số: 120/TB-ĐTTH với trong đó có nội dung: "Quá trình khám nghiệm tử thi Phạm Trọng B, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành thu mẫu máu của Phạm Trọng B, khi thu mẫu máu Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành niêm phong mẫu máu và bảo quản theo quy định. Do quá trình di chuyển nơi làm việc nên cán bộ điều tra đã làm thất lạc mẫu máu,...” và “Về thời gian giám định tử thi Phạm Trọng Bình trên Kết luận giám định pháp y tử thi số 180/GĐPY ngày 11/3/2022 của Phòng K Công an tỉnh B. Công an đã có Công văn số 109 gửi ngày 19/6/2024, chờ kết quả trả lời của Phòng K".

(ii) Như vậy, có sự u thuẫn trong các văn bản trả lời của cơ quan công an, cụ thể: Theo Biên bản n giao tử thi hoặc một phần tử thi ngày 09/3/2022 giữa bà Nguyễn Thị Kim A và ông Nguyễn Hữu Q là cán bộ điều tra - Công an thành phố T thì việc bàn giao tử thi Phạm Trọng B cho bà A vào lúc 10 giờ ngày 09/3/2022 và kết thúc việc n giao tử thi lúc 10 giờ 30 cùng ngày, đến 11 giờ 35 phút cùng ngày thì Đ hỏa táng Phước Lạc V - Bình Dương có hỏa táng tử thi Phạm Trọng B theo Biên bản xác nhận hỏa táng số: 01/BBXN-PLV ngày 09/3/2022. Tuy nhiên, biên bản thu mẫu máu của đối tượng Phạm Trọng B để giám định nồng độ cồn trong máu lại thực hiện lúc 11h30 ngày 09/3/2020 và kết thúc lúc 11h45 phút cùng ngày tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B và thành phần tham gia lấy mẫu máu giám định gồm: ông Nguyễn Thanh H2 - Cán bộ điều tra Công an thành phố T: Trần Thanh T1, Viện kiểm sát thành phố T: Võ Phi T2 - Đ1 -Công an thành phố T. Nguyễn Sỹ A1 - Phòng K Công an tỉnh B và Nguyễn Thanh V1 - nhân viên bệnh viện đa khoa tỉnh B, nhưng theo Công văn số: 172/PC09 ngày 22/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B và biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định lúc 8h30 ngày 07/6/2022 để thực hiện giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 283 ngày 07/6/2022 của Cơ quan CSĐT - Công an thành phố T thể hiện khi niêm phong mẫu máu chỉ có một chữ ký của Nguyễn Thanh H2 là cán bộ Công an thành phố T.

(iii) Do việc Cơ quan điều tra không lập biên bản niêm phong mẫu máu giám định và khi niêm phong mẫu máu giám định chỉ có một chữ ký của cán bộ điều tra Nguyễn Thanh H3 là không đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi của cơ quan CSĐT thì lại thực hiện lúc 12 giờ và kết thúc lúc 13 giờ ngày 09/3/2022 là không đúng vì thời điểm đó gia đình nguyên đơn đã đưa tử thi Phạm Trọng B đi hỏa táng lúc 11h35 phút ngày 09/3/2022 thì không còn tử thi Phạm Trọng B để thu mẫu máu giám định nồng độ cồn trong máu và thực hiện việc khám nghiệm tử thi Phạm Trọng B Lúc 13h00 ngày 09/3/2022. Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 180/GĐPY ngày 11/3/2022 của Phòng K lại thể hiện thời gian giám định tử thi Phạm Trọng B bắt đầu lúc 12 giờ 00 ngày 09/3/2022 và kết thúc lúc 13 giờ 00 phút cùng ngày và kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

(iv) Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Kim A khai nhận từ lúc nhận bàn giao tử thi Phạm Trọng B lúc 10 giờ ngày 09/3/2022 đến thời điểm hỏa táng tử thi Phạm Trọng B lúc 11h35 phút ngày 09/3/2022 không có cán bộ Công an nào liên hệ với chúng tôi để khám nghiệm tử thi hoặc thu mẫu máu để giám định. Việc khám nghiệm tử thi và thu mẫu máu của nạn nhân Phạm Trọng B được thực hiện sau khi đã bàn giao cho gia đình, nhưng không có đại diện gia đình nạn nhân tham gia việc khám nghiệm tử thi và lấy mẫu máu là không bình thường vì quá trình khám nghiệm, lấy mẫu máu tử thi đã thuộc sự quản lý của gia đình nạn nhân.

(v) Tại Công văn số: 172/PC09 ngày 22/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B phúc đáp Công văn số 1878/TATP-TLĐ và biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định lúc 08 giờ 30 ngày 07/6/2022 giữa Cơ quan CSĐT và Phòng K - Công an tỉnh B thể hiện việc niêm phong mẫu máu của Phạm Trọng B chỉ có một chữ kí của cán bộ điều tra Nguyễn Thanh H2, không có biên bản niêm phong khi thu mẫu máu là không đúng quy định mà phải có đầy đủ chữ kí của những người thực hiện việc thu mẫu giám định theo biên bản thu mẫu giám định ngày 09/3/2020 và khi niêm phong mẫu máu phải lập biên bản niêm phong mẫu máu của Phạm Trọng B theo đúng quy định.

Do đó, không có căn cứ xác định mẫu máu đi giám định là của nạn nhân Phạm Trọng B nên không có căn cứ để xác định trong máu của Phạm Trọng B có nồng độ cồn theo kết luận giám định số: 83/KL-KTHS (HPL) ngày 24/6/2022 của Phòng K - Công an tỉnh B.

(vi) Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định trình tự, thủ tục việc lấy mẫu máu, niêm phong mẫu máu, bảo quản mẫu máu (Do làm thất lạc mẫu máu khi chuyển trụ sở làm việc) mà Cơ quan điều tra cho rằng là mẫu máu của nạn nhân Phạm Trọng B Phạm Trọng B chết lúc 03 giờ sáng ngày 09/3/2022 và thời gian giám định mẫu máu là ngày 07/6/2022). Do thời gian bàn giao tử thi, thời gian hỏa thiêu tử thi Phạm Trọng B, thời gian lấy mẫu máu Phạm Trọng B và thời gian khám nghiệm tử thi có mâu thuẫn vì tử thi Phạm Trọng B đã thiêu thì không còn để khám nghiệm tử thi và lấy mẫu máu.

Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ xác định không công nhận kết luận giám định số: 83/KL-KTHS (HPL) ngày 24/6/2022 của Phòng K - Công an tỉnh B thực hiện việc giám định nồng độ cồn trong máu là mẫu máu của nạn nhân Phạm Trọng B: do không có căn cứ xác định mẫu máu của Phạm Trọng B là có nồng độ cồn trong máu nên không thuộc phạm vi loại trừ nghĩa vụ bảo hiểm để Công ty B1 chi trả quyền lợi bảo hiểm theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim A.

(vii) Do đó, kết luận giám định số: 83/KL-KTHS(HPL) ngày 24/6/2022 của Phòng K - Công an tỉnh B không được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án này theo khoản 6 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự vì việc đánh giá chứng cứ phải theo quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn để buộc Công ty TNHH B1 phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim A theo quy định tại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 35052573 ngày 23/11/2021 là có căn cứ.

(viii) Về số tiền phí bảo hiểm đã đóng mà Công ty TNHH B1 đã chuyển trả vào tài khoản cá nhân của bà Nguyễn Thị Kim A là 32.449.000 đồng nên cần khấu trừ vào khoản tiền (2.200.000.000 đồng - 32.449.000 đồng 2.167.551.000 đồng) để buộc Công ty TNHH B1 phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 2.167.551.000 đồng là có căn cứ.

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 1199/2023/DS-PT ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

Đối với các đợt điều trị từ ngày 21/10/2019 đến ngày 31/10/2019 và từ ngày 06/4/2020 đến ngày 20/4/2020 tại Trung tâm Y tế huyện T, xét thấy:

(i) Do ông H ký hợp đồng bảo hiểm vào ngày 19/9/2014, khi đã tồn tại Trung tâm Y tế huyện T với chức năng khám chữa bệnh như hiện nay, tuy nhiên do Trung tâm Y tế huyện T là Trung tâm Y tế thuộc điều khoản loại trừ thanh toán quyền lợi bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm, nên ông H phải tự chịu các chi phí khám chữa bệnh phát sinh khi khám, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện chứ không được hưởng quyền lợi bảo hiểm khi khám và điều trị bệnh tại Trung tâm Y tế theo thỏa thuận tại hợp đồng (điều khoản loại trừ tại Điểm f Khoản 6.4, Điều 6 của Hợp đồng). Vậy, yêu cầu thanh toán của ông H đối với các đợt điều trị tại đây là không có cơ sở để chấp nhận.

(ii) Kháng cáo của ông H là không có căn cứ, kháng cáo của bị đơn là có cơ sở, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H. Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện đã được giải quyết bằng quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 796/2023/DS-PT ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Việc kê khai không đúng thông tin bệnh sử của ông T là do ông T không trực tiếp ký hợp đồng và cũng không ủy quyền cho người khác ký hợp đồng bảo hiểm. Thể hiện: Tại bản khai 16/5/2023 cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25/7/2023, bà Nguyễn Thị Th đã thừa nhận bà chưa gặp mặt ông T bao giờ và bà đã tự mình điền các thông tin về ông T theo u cầu của ông L Văn C. Tại văn bản ngày 08/01/2021, cha và anh ông T nêu rõ là ông T không biết chữ, không biết ký và viết tên, chỉ có thể điểm chỉ. Tại văn bản lập cùng ngày, chị T vợ ông T cho biết: ông T không biết chữ, chỉ có thể ghi chữ Tài nhưng không ghi được đầy đủ tên Văn T. Hợp đồng bảo hiểm ngày 06/07/2020 không có dấu điểm chỉ để xác định người ký hợp đồng trong trường hợp đối với người không biết chữ, không biết ký tên, có thể khẳng định ông Văn T không trực tiếp ký vào hợp đồng bảo hiểm này.

(ii) Vậy, có thể xác định ông C mua bảo hiểm cho ông T nhưng giao kết hợp đồng dưới danh nghĩa ông L Văn T tự mua bảo hiểm cho bản thân để lách các điều khoản liên quan đến quy định pháp luật, bởi:

Theo Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định về “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người” như sau:

1. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người.

2. Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây:

A) Bản thân bên mua bảo hiểm;

B) Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;

C) Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;

D) Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.”

Quyền lợi có thể được bảo hiểm theo Khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 được định nghĩa “là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.”

Giữa ông Lê Văn T và ông Lê Văn C không có mối quan hệ về quyền lợi có thể được bảo hiểm. Bởi: Giữa ông T và ông C không có mối quan hệ quyến thuộc như gia đình ông Văn T đã khẳng định.

(iii) Theo lời trình bày của cha, anh và vợ ông T cho thấy ông T không đi làm và không giao ước hợp đồng lao động với ông L Văn C.

Việc đăng ký thành viên hợp tác xã là do ông L Văn C tự kê khai, hơn nữa quan hệ giữa chủ tịch Hội đồng quản trị với xã viên cũng không thuộc trường hợp có thể mua bảo hiểm cho nhau do không có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Vậy, giữa ông C và ông T không tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm, nên việc ông C mua bảo hiểm cho ông T với điều khoản trong trường hợp ông T bị tai nạn hoặc tử vong thì người thụ hưởng sẽ là ông C là vi phạm Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 với dấu hiệu trục lợi bảo hiểm.

(iv) Do vi phạm Khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 về việc cố ý cung cấp thông tin sai sự thật về đối tượng bảo hiểm, nên doanh nghiệp bảo hiểm được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm mà vẫn thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng.

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 13/2023/DS-PT ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Quá trình giải quyết vụ án, bà C xác nhận có ký vào 04 Đơn yêu cầu bảo hiểm, nhưng bà C cho rằng khi ký cả 04 Đơn yêu cầu bảo hiểm không có nội dung và cũng không được ông C2 cung cấp điều khoản cụ thể của 04 hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, bà C cũng như đại diện theo ủy quyền của bà C không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn cung cấp 04 bộ hợp đồng bảo hiểm gốc, trong đó có 04 Đơn yêu cầu bảo hiểm gốc, có chữ ký của bà C là bên mua bảo hiểm. Tại Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định”.

Do vậy, có cơ sở xác định việc bà C ký vào 04 Đơn yêu cầu bảo hiểm là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái quy định pháp luật nên có căn cứ xác định 04 hợp đồng bảo hiểm số 2817193319 ngày 17/04/2018; số 2817193665 ngày 23/04/2018; số 2815839897 ngày 24/04/2018; số 2815840002 ngày 24/04/2018 giữa bà C và Công ty MNL VN đã được giao kết và có giá trị pháp lý.

(ii) Căn cứ Đơn đề nghị ngày 25/6/2018 của bà C cùng lời khai của ông C2 là người tư vấn bảo hiểm cho bà C và bị đơn là Công ty MNL VN, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định thời điểm bà C nhận được 04 bản Hợp đồng bảo hiểm số 2817193319 ngày 17/04/2018; số 2817193665 ngày 23/04/2018; số 2815839897 ngày 24/04/2018; số 2815840002 ngày 24/04/2018 là khoảng tháng 5 năm 2018. Như vậy, ngày 25/6/2018, bà C mới có đơn đề nghị hủy 04 bản Hợp đồng bảo hiểm nêu trên là đã quá thời hạn 21 ngày theo Điều 4 của các Hợp đồng bảo hiểm.

(iii) Đối với yêu cầu khởi kiện của bà C và trình bày của đại diện theo ủy quyền của bà C cho rằng ông C2 đã tư vấn không đúng như nội dung các Hợp đồng bảo hiểm mà bà C nhận được và vi phạm các quy định trong hoạt động đại lý bảo hiểm làm xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu bà C cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông C2 tư vấn sai thông tin, không đúng thông tin như 04 bản Hợp đồng bảo hiểm bà C được nhận. Tại Bản giải trình ngày 14/4/2021 (bút lục số 449), đại diện cho bà C khẳng định không cung cấp được tài liệu chứng minh việc ông C2 tư vấn sai thông tin hay có vi phạm gì về quy định của Đại lý bảo hiểm gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bà C. Về nội dung đại diện hợp pháp của bà C cho rằng việc ông C2 hứa hẹn cho bà C 510.000.000đ tiền hoa hồng nếu bà C tham gia ký các Hợp đồng bảo hiểm, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây chỉ là lời hứa hẹn cá nhân giữa ông C2 và bà C (nếu có), không thể hiện việc ông C2 đã gian dối hay tư vấn sai thông tin các Hợp đồng bảo hiểm cho bà C và cũng không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà C như lời của bà C cũng như đại diện hợp pháp cho bà C trình bày. Hơn nữa, như phân tích tại mục [2.2] nêu trên thì sau khi nhận được 04 bản Hợp đồng bảo hiểm, trong thời hạn 21 ngày bà C không có ý kiến gì về việc ông C2 tư vấn nội dung không đúng với nội dung 04 bản Hợp đồng mà bà C đã nhận và còn có đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với hai Hợp đồng bảo hiểm số 2817193319 ngày 17/04/2018, số 2817193665 ngày 23/04/2018. Do đó, yêu cầu này của bà C là không có căn cứ chấp nhận.

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 137/2021/DS-PT ngày 02/02/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Xét thấy, Nguyên đơn và Bị đơn đều không có yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố đối với yêu cầu xác định hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự. Tuy nhiên, do việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị sửa phần nội dung quyết định này. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên căn cứ Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án cấp phúc thẩm không hủy bản án sơ thẩm mà chỉ sửa phần quyết định không đúng pháp luật này.

(ii) Theo Đơn yêu cầu Bảo hiểm số 00095668 ngày 14/01/2019 và Hợp đồng bảo hiểm số 80036724 ngày 14/01/2019 giữa ông Lê Hoàng V và Công ty Cổ phần Bảo hiểm nhân Thọ P thì sản phẩm bảo hiểm là tử vong và thương tật do tai nạn, bệnh hiểm nghèo. Theo Điều 5 của Hợp đồng bảo hiểm về kê khai các thông tin cần thiết thì thông tin cần thiết là thông tin về tình trạng nhân và thân sức khỏe. Do đó thông tin (các) hợp đồng liên quan không phải là các thông tin cần thiết theo quy định của hợp đồng này và cũng không liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Việc ông V cung cấp sai thông tin (các) hợp đồng liên quan không làm cho Công ty Cổ phần Bảo hiểm nhân Thọ P hiểu sai lệch về tính chất của đối tượng bảo hiểm hoặc nội dung của giao dịch giữa hai bên. Tuy ông V có cung cấp thông tin sai sự thật, nhưng thông tin sai sự thật trên không phải là yếu tố nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường nên việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm và Điều 127 của Bộ luật Dân sự để xác định hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là không đúng quy định pháp luật.

(iii) Xét thấy theo Phụ lục 1 – danh sách thương tật và tỷ lệ chi trả thì chỉ ghi “cụt đốt ngón tay cái” mà không quy định về tỷ lệ thương tật nên việc Công ty Bảo hiểm nhân thọ P căn cứ vào Thông tư số 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 27/9/2013 xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% đến 25% cho việc mất (cụt) ngón cái để từ chối bồi thường là không có cơ sở. Hợp đồng bảo hiểm số 80036724 ngày 14/01/2019 không định nghĩa rõ cụt là như thế nào và trên thực tế đốt gần ngón cái bàn tay trái của ông V chỉ còn mỏm cụt. Do do điều khoản về cụt ngón cái trong Hợp đồng không rõ ràng nên căn cứ Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm. Tuy nhiên, do ông V chỉ bị cụt một phần đốt gần ngón cái bàn tay trái nên căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 17, điểm d Khoản 1 Điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm xác định Công ty Cổ phần Bảo hiểm nhân Thọ P phải bồi thường cho ông Lê Hoàng V thương tật mất một phần đốt gần ngón cái bàn tay trái là 50% tỷ lệ chi trả cho cụt đốt ngón tay cái là 100.000.000 đồng.

(iv) Từ các nhận định trên, có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn do đó, căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng V.

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2021/DS-PT ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Cùng lúc lập 03 Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm trên máy tính bảng sử dụng phần mềm ứng dụng Pru Smart, nguyên đơn và các con là Bà A1 và ông H đã ký 03 “Thư xác nhận“, V/v: Sử dụng hồ sơ yêu cầu bảo hiểm và chữ ký điện tử và tại các Thư xác nhận đều có nội dung: “2.Tôi/Chúng tôi đã hoàn tất HSYCBH nêu trên với Prudential. Tôi/Chúng tôi xác nhận đã tự kê khai sức khỏe, tài chính, nghề nghiệp bằng cách chọn ô trả lời thích hợp và tự tay ký vào HSYCBH này bằng viết cảm ứng trên màn hình thiết bị máy tính bảng thông qua ứng dụng“ Pru Smart“. Nguyên đơn đã đóng ngay phần tạm ứng phí bảo hiểm (bà A đóng 25.803.400 đồng, Bà A1 và ông H mỗi người đóng 25.000.000 đồng) vào thời điểm lập hồ sơ.

Ngày 12 và 14/9/2017, nguyên đơn và các con đi khám tổng quát tại Phòng khám đa khoa Phước Thịnh. Kết quả xét nghiệm ngày 22/9/2017 cho thấy cả 3 người đều bị nhiễm vi rút viêm gan B.

Nguyên đơn có lập bổ sung Phiếu yêu cầu điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ký ngày 28/9/2017 có nội dung yêu cầu điều chỉnh định kỳ đóng phí cho HĐBH số 13 và 31 từ định kỳ nộp phí mỗi 3 tháng thành nộp mỗi năm.

Sau khi thẩm định hồ sơ, lần lượt vào các ngày 27 và 29/9/2007, bị đơn có gửi cho nguyên đơn Thông báo chấp nhận bảo hiểm có điều kiện tăng phí bảo hiểm vì lý do sức khỏe và một số điều kiện khác đối với bà A và Bà A1, riêng ông H thì không bổ sung điều kiện nào.

Lần lượt các ngày 4, 14 và 21/10/2017 bị đơn đã bàn giao cho nguyên đơn ba bộ hồ sơ HĐBH số 13, 31 và 33, mỗi bộ hồ sơ gồm: Thư chúc mừng, Giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ, Thư Thông báo kết quả giao dịch hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (và/hoặc TB chấp nhận có điều kiện), Thông tin khách hàng cần biết, Quy tắc và Điều khoản sản phẩm, Yêu cầu bảo hiểm và Phiếu minh họa quyền lợi.

(ii) Nay nguyên đơn cho rằng nhân viên tư vấn của bị đơn không ghi nguyên đơn và con mình bị bệnh viêm gan siêu vi B vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm trong khi nguyên đơn đã khai báo, vấn đề này cả nguyên đơn và bị đơn đều có lỗi. Bởi lẽ nếu nguyên đơn kiên quyết yêu cầu ghi rõ bệnh lý của mình mà nhân viên tư vấn cố tình không thực hiện thì nguyên đơn có quyền từ chối lập hồ sơ.

Hơn nữa, sau khi nhận được kết quả xét nghiệm bệnh viêm gan siêu vi B, nguyên đơn vẫn có quyền yêu cầu điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm như việc lập Phiếu yêu cầu điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ký ngày 28/9/2017 nhưng nguyên đơn đã không làm việc này.

(iii) Tại mục 4.Phần I của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm đã quy định: “Trong vòng 21 (hai mươi mốt) ngày kể từ ngày bên mua bảo hiểm nhận được Giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ, Bên mua bảo hiểm có quyền từ chối tiếp tục tham gia bảo hiểm bằng cách gửi thông báo đề nghị hủy hợp đồng bảo hiểm đến Prudentail. Trong trường hợp này, Hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực tính từ thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Khi đó, Prudential sẽ chi trả cho bên mua bảo hiểm tổng phí bảo hiểm đã đóng, không có lãi, sau khi trừ các chi phí khám, xét nghiệm y khoa, nếu có“.

Nguyên đơn cho rằng do tin tư vấn viên nên không đọc HĐBH, không được tư vấn nội dung này nên không biết. Hội đồng xét xử thấy rằng có thể nhân viên tư vấn của bị đơn không làm tốt công tác tư vấn nhưng không thể nói nguyên đơn không có trách nhiệm kiểm tra lại nội dung hợp đồng.

Như vậy, việc không ghi vào hồ sơ bảo hiểm bệnh viêm gan siêu vi B, không được ký tên trực tiếp trên máy tính bảng (nếu có), hủy hợp đồng ... vẫn có thể được khắc phục ngay trong khoảng thời gian cân nhắc 21 ngày, nguyên đơn không sử dụng quyền này thì phải tự gánh chịu thiệt hại.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cần lưu ý phía bị đơn cũng cần phải xem xét về những khuyết điểm của nhân viên tư vấn (nếu có) để bảo đảm quyền lợi cho những khách hàng khác.

(iv) Sau khi nguyên đơn khiếu nại, bị đơn đã có văn bản ngày 27/9/2018 do bà Trần Nam B (Quản lý giải quyết khiếu nại Mê kông, Phòng dịch vụ khách hàng - Khối giao dịch bảo hiểm) có nội dung xác định: “Mặc dù thông tin bệnh viêm gan siêu vi B không được kê khai trong Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm (HSYCBH), tuy nhiên thông tin bệnh này đã được người được bảo hiểm (NĐBH): Hứa Ngọc A, Nguyễn Ngọc A1 và Nguyễn Ngọc H kê khai trong hồ sơ khám sức khỏe. Vì vậy, X xin xác nhận: Các quyết định bảo hiểm đối với các hợp đồng nêu trên đã có đánh giá đến bệnh viêm gan siêu vi B. Theo đó, X sẽ chấp nhận yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho NĐBH có liên quan đến bệnh gan.“

Ngoài ra, tại biên bản giải quyết khiếu nại của khách hàng ngày 02/11/2018 giữa nguyên đơn với bà Dương Thu H (Trưởng phòng cấp cao Phòng GQKN (đại diện X) nguyên đơn đã xác định không còn khiếu nại (các nội dung chữ ký trên Ipad, hợp đồng đầu tư có số tiền đầu tư 50 triệu đồng...).

Xem xét thẩm quyền giải quyết khiếu nại của người đại diện nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy kết quả giải quyết khiếu nại tuy không phải là phụ lục hợp đồng nhưng kết quả này có đủ giá trị để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn và 2 con khi xảy ra vấn đề cần bảo hiểm liên quan đến bệnh viêm gan siêu vi B và phù hợp với quy định tại Điều 1 Phần “ Các nội dung cơ bản khác của bản quy tắc, điều khoản sản phẩm bảo hiểm“ tại Bảng Minh họa quyền lợi bảo hiểm Phú-Bảo gia Thịnh vượng; đồng thời với kết quả giải quyết khiếu nại này thì nguyên đơn và Bà A1, ông H không bị rơi vào trường hợp bị từ chối bảo hiểm đối với bệnh viêm gan siêu vi B quy định tại Mục 5 (X không thể giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho quý khách trong một số trường hợp điển hình nào) Phần “Những câu hỏi quan trọng thường gặp kèm theo bản Thông tin khách hàng cần biết mà nguyên đơn đã được nhận“.

(v) Từ những phân tích trên có cơ sở xác định các HĐBH số 13, 31 và 33 đã được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa hai bên, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng có hiệu lực, các bên tham gia giao dịch có trách nhiệm tôn trọng hợp đồng và thực hiện đúng thỏa thuận. Không có cơ sở xác định HĐBH bị vô hiệu.

(vi) Đối với việc nguyên đơn không tiếp tục đóng phí bảo hiểm, yêu cầu hủy hợp đồng và đòi lại số tiền phí bảo hiểm đã nộp.

Sau khi đóng đủ tiền bảo hiểm cho năm đầu tiên đối với 3 HĐBH và cho đến khi bị đơn có văn bản giải quyết khiếu nại thì quyền lợi của nguyên đơn, Bà A1 và ông H vẫn chưa bị bị đơn xâm phạm, chưa có thiệt hại nào xảy ra, phía nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng nhưng đối chiếu theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và các HĐBH đã ký kết thì việc nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng là không có cơ sở.

Theo phân tích tại mục [2.1] và quy định tại Khoản 2 Điều 132 Bộ luật dân sự: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Kinh doanh bảo hiểm, thì bên mua bảo hiểm nhân thọ không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn không đồng ý khôi phục, tiếp tục thực hiện hợp đồng, trong khi bị đơn có thiện chí này.

Nay, nguyên đơn hủy hợp đồng và không đóng tiếp phí bảo hiểm năm thứ 2 là có lỗi và vi phạm hợp đồng, phía bị đơn không có lỗi, không vi phạm hợp đồng nên không có trách nhiệm hoàn trả số tiền bảo hiểm nguyên đơn đã nộp.

Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 610/2020/DS-PT ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Xét, Hợp đồng bảo hiểm số 288039698-9 ngày hiệu lực hợp đồng 14/5/2012 cấp ngày 31/5/2012 giữa bên mua bảo hiểm bà Đặng Thị Kim L và bên bán là Công ty TNHH M (Việt Nam) với sản phẩm bảo hiểm “ Phúc thọ phu thê - Tri ân nghĩa vợ”, trả phí 15 năm; số tiền bảo hiểm là 1.000.000.000 đồng.

Thấy, trong Đơn yêu cầu bảo hiểm nhân thọ ký ngày 14/5/2012 trong phần F các câu hỏi về thông tin sức khỏe của người được bảo hiểm. Tại câu hỏi số 38 ghi tên và địa chỉ bệnh viện/trung tâm y tế nơi người được bảo hiểm thường thăm khám hoặc đăng ký khám bảo hiểm y tế. Bà L khai “BVĐKTT VH, LA”; tại câu hỏi số 39 Lý do đến khám, địa chỉ nơi khám và ngày khám bệnh cuối cùng, bà L khai: “Ngày 28/2/2012- ngày 05/03/2012 Viêm họng - Hội chứng tiền đình.”.

Thấy, trong đơn yêu cầu Bảo hiểm ngày 14/5/2012 bà L đã kê khai đầy đủ câu hỏi số 38 và câu hỏi số 39 đã thể hiện lý do khám bệnh, bà L có kê khai thời gian khám bệnh tuy chưa được chính xác về ngày khám bệnh cuối cùng và nơi khám bệnh nhưng đối chiếu với câu hỏi số 52 bà L có khai “Giấy ra viện” và tại phiên tòa bà L có cung cấp hồ sơ bệnh án nằm viện trong thời gian này, đây là tình tiết mới chứng minh bà L có kê khai nơi khám bệnh. Việc này đã chứng minh việc bà L đã kê khai trung thực căn bản về lý do khám bệnh và địa chỉ nơi khám bệnh. Điều đó một lần nữa được chứng minh trên thực tế phía Công ty M cũng thừa nhận quá trình thực hiện hợp đồng sau khi tham gia các hợp đồng bảo hiểm nói trên, từ năm 2012 cho đến năm 2015, bà L đã có tổng cộng 31 đợt nằm viện để điều trị các bệnh lý thông thường như: Viêm xoang, viêm phế quản, viêm họng, rối loạn tiền đình, viêm dạ dày tá tràng, v.v… Công ty M cũng đã xem xét và đã giải quyết các yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm trợ cấp nằm viện của bà L theo hai Hợp đồng bảo hiểm nêu trên với tổng số tiền là 510.800.000 đồng (Năm trăm mười triệu tám trăm ngàn đồng). Theo Bản án số 389/2018/DS-PT ngày 18/4/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Công ty M đã trả thêm cho bà L số tiền là 234.348.000 đồng, tổng cộng 759.548.000 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng Hợp đồng bảo hiểm số 288039698-9 ngày hiệu lực hợp đồng 14/5/2012 cấp ngày 31/5/2012 giữa bên mua bảo hiểm bà Đặng Thị Kim L và bên bán là Công ty TNHH M (Việt Nam) có hiệu lực thi hành. Việc Công ty M chấm dứt Hợp đồng bảo hiểm số 288039698-9 ngày hiệu lực hợp đồng 14/5/2012 cấp ngày 31/5/2012 với bà L vì lý do bà L khai báo không trung thực là không đúng.

(ii) Xét, tại phiên tòa do phía Công ty M xác định đồng ý khôi phục hợp đồng trong trường hội đồng xét xử xác định Công ty là bên có lỗi khi chấm dứt hợp đồng và bà L phải tiếp tục đóng phí bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho cả trong thời gian chấm dứt hợp đồng nêu trên. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà L không đóng số tiền phí bảo hiểm còn thiếu thì hợp đồng bảo hiểm đương nhiên chấm dứt và phía bị đơn Công ty M không phải hoàn trả các khoản phí bảo hiểm mà bà L đã đóng cho hợp đồng này.

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nội dung sửa án 

(i) Các thông tin ông B kê khai trong giấy yêu cầu bảo hiểm và các thông tin khi khám sức khỏe là cơ sở để Bệnh viện đa khoa B thăm khám cho ông B theo yêu cầu của công ty. Như vậy, các nội dung thông tin về sức khỏe trong giấy yêu cầu bảo hiểm của ông B không đúng với thực tế tình trạng sức khỏe của ông B: Ông B đã từng khám, xét nghiệm, điều trị bệnh trong 1 năm trước khi tham gia bảo hiểm. Các nội dung thông tin ông B tự cung cấp khi kiểm tra sức khỏe để tham gia bảo hiểm xã hội cũng không chính xác, cụ thể ông B đã từng nằm viện điều trị nhưng ông B lại xác định là “không”. Do đó, có cơ sở xác định ông B cung cấp thông tin không đầy đủ, không trung thực khi tham gia bảo hiểm.

Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn cho rằng ông B không ký tên vào từng trang giấy yêu cầu nên không có cơ sở xác định ý chí của ông B là không phù hợp.

(ii) Theo quy định tại Điều 4, Điều khoản An phát trọn đời quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin: “Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và trung thực tất cả những thông tin có liên quan đến người được bảo hiểm và hợp đồng theo yêu cầu của BVNT đồng thời hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông tin đã cung cấp. Việc BVNT tiến hành kiểm tra sức khỏe của người được bảo hiểm (nếu có) không thay thế nghĩa vụ này”.

“Cố ý vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin được hiểu là việc bên mua bảo hiểm cung cấp, kê khai không chính xác, không trung thực hoặc che giấu các thông tin quan trọng mà nếu biết được các thông tin này BVNT đã không chấp nhận bảo hiểm hoặc chấp nhận bảo hiểm nhưng phải kèm theo các điều kiện bổ sung theo quy định của BVNT”.

Theo quy định tại Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm: “Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo hiểm” và Điều 573 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm.

Do đó, có cơ sở xác định bên mua bảo hiểm ông Đặng Lâm Quốc B đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 4, Điều khoản An phát trọn đời và Điều 18 Luật Kinh doanh Bảo hiểm.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định rằng không có cơ sở để cho rằng ông Bảo vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin là không phù hợp.

(iii) Ngày 12/3/2015, ông B chết, nguyên nhân chết trong giấy khai tử là do bệnh. Việc công ty không thanh toán tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng bà Trần Thị T sau khi phát sinh sự kiện bảo hiểm là đúng với quy định tại Điều 4 điều khoản bảo hiểm: BVNT không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm về những rủi ro đã phát sinh đối với người được bảo hiểm, đồng thời không phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm định kỳ và phí bảo hiểm bổ trợ đã đóng.

(iv) Tương tự với gói bảo hiểm được xác lập theo giấy yêu cầu ngày 24/7/2014 bảo hiểm An phát trọn đời: Giá trị bảo hiểm 2.500.000.000 đồng, người được bảo hiểm là ông B, người thụ hưởng là cháu Đặng Ngọc Anh T; giấy yêu cầu ngày 24/7/2014 gói bảo hiểm An phát hưng gia: Giá trị bảo hiểm 1.500.000.000 đồng, người được bảo hiểm là ông B, người thụ hưởng là bà Đặng Ngọc M. Ông B cũng là người vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 4 An phát hưng gia và Điều 4 An phát trọn đời. Do đó, việc Tổng Công ty B từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm đối với những người thụ hưởng bà Đặng Ngọc M, cháu Đặng Ngọc Anh T là đúng quy định.

(v) Yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp, cần sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Kháng cáo của bị đơn là có cơ sở chấp nhận