MỤC LỤC

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 197/2024/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng uỷ quyền

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 397/2024/DS-PT ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 333/2024/DS-PT ngày 22/4/2024 về việc tranh chấp đòi tài sản là di sản do người chết để lại

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 209/2024/DS-PT ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tín dụng

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 188/2024/DS-PT ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp thừa kế tài sản

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 37/2023/DS-PT ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 293/2022/DS-PT ngày 10/5/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 33/2022/DSPT ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tranh chấp quyền sở hữu nhà ở và đất ở, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu hủy văn bản công chứng và hủy phần cập nhật giấy chứng nhận

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 568/2023/DS-PT ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi tài sản là quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 03/2023/DS-PT ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đòi lại tài sản là nhà và quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng dân sự vay tài sản

 

1. Bản án dân sự phúc thẩm số 197/2024/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng uỷ quyền

Nội dung hủy án:

Ngày 04/3/2024, chị T4 có bản khai với nội dung nếu ông T, bà L yêu cầu hủy hợp đồng thì phải hoàn trả lại 1.800.000.000 đồng cho chị T4 nhưng không có đơn yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, trước đó ngày 01/3/2024 Tòa án cấp sơ thẩm ra thông báo cho chị T4 nộp tạm ứng án 300.000 đồng, chị nộp tạm ứng số tiền trên vào ngày 04/3/2024.

Như vậy, mặc dù chị T4 không có đơn yêu cầu độc lập nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của chị T4 sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử là chưa đúng theo quy định tại Điều 201 và 202 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của chị T4 nhưng chưa có thông báo thụ lý yêu cầu độc lập và hòa giải đối với yêu cầu độc lập mà xét xử yêu cầu của chị T4 là vi phạm về trình tự thủ tục tố tụng.

2. Bản án dân sự phúc thẩm số 397/2024/DS-PT ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư

Nội dung hủy án 

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, phía bị đơn không có yêu cầu gì, không có yêu cầu phản tố, nhưng cấp sơ thẩm lại xem xét giải quyết buộc cả nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có trách nhiệm trả tiếp cho bị đơn số tiền 5.782.666.802 đồng là không đúng quy định pháp luật, giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

3. Bản án dân sự phúc thẩm số 333/2024/DS-PT ngày 22/4/2024 về việc tranh chấp đòi tài sản là di sản do người chết để lại

Nội dung hủy án 

Về diện tích nhà đất tranh chấp để xác định là di sản:

Diện tích nhà: cần xác định rõ vì bà X kê khai năm 1977 diện tích nhà 26m2 trên diện tích đất của khu nhà là 36m2, năm 1999 ông S kê khai diện tích xây dựng là 136m2, diện tích đất là 362m2. Theo bản vẽ hiện trạng ngày 18/9/2013 có diện tích đất 288,8m2, theo Bản đồ hiện trạng vị trí nhà ngày 10/11/2014 có diện tích đất 296m2. Xét thấy chênh lệch về diện tích đất nói trên không được tòa án cấp sơ thẩm đo vẽ xác định lại mà chỉ căn cứ vào thừa nhận của các đương sự đồng ý theo Bản đồ hiện trạng vị trí nhà ngày 10/11/2014 có diện tích đất 296m2. Ông T cho rằng phần mở rộng diện tích mà ông S kê khai diện tích xây dựng 136m2 nhưng không có chứng cứ chứng minh và cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ phần này. Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm chỉ xác định nhà và đất là di sản, buộc bị đơn giao trả nhà đất mà không có căn cứ pháp lý nào của cơ quan có thẩm quyền để xác định cụ thể diện tích nhà và đất.

Mặt khác, ông T có yêu cầu phản tố công nhận quyền sở hữu do ông được hưởng thừa kế từ ông bà nội (ông B, bà X) và của cha mẹ là ông S: tại phiên tòa sơ thẩm ông G trình bày theo ông được biết thì diện tích khi mua bán là khoảng 32m2 nhưng tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh để xác định phần di sản của ông B, bà X và phần của ông S mở rộng để xem xét yêu cầu của các bên đương sự, tờ kê khai năm 1977 (bà X kê khai) và năm 1999 (ông S kê khai) không phải là cơ sở xác định chính xác diện tích nhà đất đang tranh chấp vì việc kê khai chỉ dừng lại ở việc người đang quản lý sử dụng tại thời điểm kê khai. Do vậy, việc bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn giao trả nhà và đất mà không xem xét đến công sức gìn giữ, tôn tạo, làm tăng diện tích và giá trị nhà đất tranh chấp là chưa giải quyết toàn diện vụ án.

4. Bản án dân sự phúc thẩm số 209/2024/DS-PT ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tín dụng

Nội dung hủy án:

(i) ... Bị đơn có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án buộc bà C phải trả số tiền vay là 1.339.000.000 đồng (một tỷ ba trăm ba mươi chín triệu đồng); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 21/9/2023 là 10.817.622.716 đồng (mười tỷ tám trăm mười bảy triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm mười sáu đồng) và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ khi Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng ủy quyền, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng là phù hợp tuy nhiên còn xác định thiếu quan hệ pháp luật tranh chấp là yêu cầu bồi thường thiệt hại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo yêu cầu phản tố của bị đơn.

(ii) ... Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng ủy quyền vô hiệu do che giấu giao dịch vay tiền và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền giữa nguyên đơn và bị đơn đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả nợ khoản tiền nguyên đơn vay của bị đơn là chưa đánh giá đúng bản chất vụ việc. Trường hợp này, cần xác định lại hình thức, nội dung hợp đồng ủy quyền giữa ông B và bà C; hợp đồng ủy quyền giữa bà C và ông S có đúng quy định của pháp luật không, có đúng ý chí của các bên hay không và các bên đã thực hiện đúng theo nội dung ủy quyền không; hợp đồng ký trước khi tất toán khoản vay có sự đối lập quyền lợi giữa người ủy quyền là nguyên đơn và người nhận ủy quyền là bị đơn hay không. Để ký kết hợp đồng ủy quyền thì có cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không trong khi quyền sử dụng đất đang bị thế chấp tại E để từ đó xác định hợp đồng có hiệu lực hay vô hiệu và trách nhiệm của các bên trong việc ký kết thực hiện hợp đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng là còn thiếu sót trong đánh giá chứng cứ.

(iii) Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Bị đơn yêu cầu nguyên đơn thanh toán tiền gốc là 757.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng là 582.000.000 đồng; tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn chỉ yêu cầu nguyên đơn thanh toán số tiền gốc và lãi 1.330.756.840 đồng trong đó nợ gốc là 735.647.527 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng tính đến ngày 13/9/2023 là 595.109.313 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày được ghi nhận trong biên bản phiên tòa sơ thẩm (bút lục 658) như sau: Trước khi ký hợp đồng ủy quyền, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận bị đơn đồng ý ứng tiền bỏ vào Ngân hàng tất toán và nguyên đơn đồng ý với lãi suất 4%/tháng, sau đó thỏa thuận thống nhất bị đơn bỏ ra bao nhiêu tiền thì thông báo cho nguyên đơn biết số tiền cụ thể, còn thỏa thuận vay 6.000.000.000 đồng là ngoài số tiền nộp vào Ngân hàng còn một khoản chi phí để làm hồ sơ góp vốn và hồ sơ thế chấp, tổng chi phí bị đơn xác định là 6.000.000.000 đồng. Nguyên đơn có ký giấy xác nhận nợ khoản 6.000.000.000 đồng này nhưng bị đơn không cung cấp cho Tòa án (bút lục 655). Kèm theo đơn phản tố bị đơn không có chứng cứ nào chứng minh việc vay mượn 6.000.000.000 đồng giữa hai bên. Trong tài liệu do nguyên đơn cung cấp có bảng tạm tính nợ gốc và lãi (bút lục 84) và công nợ bà C – anh Hóa (bút lục 86) có nhắc đến “chủ tiền” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ “chủ tiền” là ai, có phải là ông H1, bà P hay người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S hoặc người khác, vai trò của “chủ tiền” trong mối quan hệ giữa bà C và ông S ra sao và giao dịch vay giữa nguyên đơn và bị đơn như thế nào nhưng lại chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn tính lãi trên số tiền 6.000.000.000 đồng và buộc ông H1, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S, ông H1, bà P phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn 2.626.917.091 đồng trong khi chưa có chứng cứ chứng minh mối quan hệ thỏa thuận cho vay tiền giữa các bên liên quan đến nguyên đơn là chưa có cơ sở vững chắc.

(iv) Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP N: Ngày 26/01/2021, Ngân hàng TMCP N ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/SĐ-0124/2021/702-CV và ngày 26/01/2022 ký Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng hạn mức 2749801.22 ngày 26/01/2022 với Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S, nội dung hợp đồng: Ngân hàng TMCP N cho Công ty TNHH Sản xuất Thương mại S vay số tiền 9.000.000.000 đồng, thời hạn của mỗi lần nhận nợ là 06 tháng, lãi suất vay được điều chỉnh 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm; mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng các loại. Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 26/01/2021, ông Hồ Sỹ H1 và bà Nguyễn Thị Hoài P đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 0053/2021/702BĐ với Ngân hàng N để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 62, diện tích đất 351,4m2 và 01 nhà ở riêng lẻ có diện tích sàn xây dựng là 275,6m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy CH09473 do UBND thị xã (nay là thành phố) D cấp ngày 10/6/2016 cho bà C, cập nhật biến động ngày 10/01/2020 cho ông H1, bà P. Trước khi nhận tài sản thế chấp, ngày 11/12/2020 Ngân hàng N có xuống thẩm định tài sản và xác định giá trị tài sản thế chấp là 11.620.000.000 đồng (hợp đồng tín dụng hạn mức – bút lục 141). Sau khi nhận thế chấp, ngày 06/12/2021 Ngân hàng tiếp tục thẩm định giá trị tài sản thế chấp và xác định giá trị tài sản tăng lên là 12.126.000.000 đồng (bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng hạn mức - bút lục 140). Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng xác định mỗi lần xuống thẩm định đều có ông B ra mở cửa, quá trình thẩm định có khi có bà C chứng kiến, có khi chỉ có ông B chứng kiến. Nguyên đơn thừa nhận các lần Ngân hàng thẩm định tài sản, gia đình nguyên đơn đều biết vì ông S, ông H1 thông báo cho nguyên đơn và nguyên đơn sẽ thông báo ông B (chồng nguyên đơn) ra mở cửa để Ngân hàng vào thẩm định.

Như vậy, nguyên đơn cho rằng không biết tài sản đã được chuyển nhượng cho ông H1 trong khi thực tế ông S đã chuyển nhượng cho ông H1 ngay sau khi ông S được ủy quyền từ nguyên đơn. Ngân hàng N nhận thế chấp tài sản cũng không kiểm tra kỹ tình trạng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất do ai quản lý sử dụng để từ đó có cơ sở cấp tín dụng cho bên vay. Tại cấp sơ thẩm, ông H1, bà P và người đại diện theo ủy quyền của ông H1 vắng mặt và không gửi văn bản trình bày nội dung vụ việc có liên quan đến các giao dịch giữa ông S và ông H1 cũng như giữa ông H1 với nguyên đơn. Sau khi án sơ thẩm tuyên ông H1, bà P phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 2.626.917.091 đồng; vợ chồng ông H1, bà P mới kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng bản án sơ thẩm chưa phù hợp và gây thiệt hại cho vợ chồng ông H1, bà P. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác định khi xem xét hồ sơ cấp tín dụng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp có ghi tên bà C cập nhật biến động cho vợ chồng ông H1. Khi đại diện Ngân hàng N đến thẩm định tài sản thì không có mặt ông H1 mà chỉ có ông B ra mở cửa và Ngân hàng không có hỏi ông B nguồn gốc tài sản vì trong hồ sơ đã ghi nhận chuyển nhượng cho ông H1, bà P rồi và Ngân hàng chỉ liên hệ với ông H1, không cần biết bà C, ông B là ai. Như vậy, tại thời điểm thẩm định tài sản thì Ngân hàng biết rõ người quản lý tài sản không còn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp ở Ngân hàng nhưng không thông tin cho người quản lý tài sản biết.

Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, Ngân hàng cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh ông B, bà C đồng ý với kết quả thẩm định để thực hiện hợp đồng cấp tín dụng và hợp đồng thế chấp tại Ngân hàng N. Do đó, để đánh giá hợp đồng thế chấp có hiệu lực hay không cần đánh giá được bản chất của hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mới có cơ sở xác định, từ đó xác định trách nhiệm của các bên liên quan đến các hợp đồng đang tranh chấp.

5. Bản án dân sự phúc thẩm số 188/2024/DS-PT ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp thừa kế tài sản

Nội dung hủy án:

(i) Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 5 năm 2020, nguyên đơn ông Dương Phước H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 03/12/2019, số công chứng 12775, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 02 năm 2020 giữa bà Lê Thị H1 và ông Cao Minh V được Văn phòng C quyển số 02 TP/CC- SCC/HĐGD; ngày 06/8/2020, bị đơn bà Lê Thị H1 có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 02 năm 2020 và ngày 19 tháng 8 năm 2023, bà H1 có đơn phản tố bổ sung yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của bà Lê Thị Dung H5 lập ngày 22 tháng 11 năm 2019 có hiệu lực. Với nội dung yêu cầu của các đương sự nêu trên phải xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận hiệu lực của di chúc”. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế tài sản” là chưa chính xác.

(ii) Đối với yêu cầu phản tố tranh chấp di sản thừa kế của bà Lê Thị H1.

Bị đơn bà Lê Thị H1 có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu công nhận di chúc ngày 22/11/2019 do bà Lê Thị Dung H5 lập tại Bệnh viện Đ2 để lại diện tích 114m2 thửa đất số 180, tờ bản đồ số 28-2 địa chỉ tại khu C phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho bà Lê Thị H1 là hợp pháp. Xét thấy, di chúc ngày 22/11/2019 có hai người làm chứng là bà Nguyễn Thị Bách T6 và ông Nguyễn Trung H7 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không lấy lời khai của họ để xác định ý chí của bà H5 khi lập di chúc mà lại căn cứ Điều 638 Bộ luật Dân sự nhận định di chúc lập lại tại bệnh viện nhưng không có xác nhận của người phụ trách bệnh viện nên hình thức của di chúc không đảm bảo theo quy định của pháp luật nên di chúc không có hiệu lực pháp luật và bác yêu cầu của bị đơn là chưa đảm bảo căn cứ vững chắc.

6. Bản án dân sự phúc thẩm số 37/2023/DS-PT ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất

Nội dung hủy án:

(i) Nguyên đơn khởi kiện và giữ nguyên quan điểm khởi kiện từ khi thụ lý đến khi xét xử sơ thẩm là đòi quyền quản lý, sử dụng 13.787m2 đất rừng. Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông T, bà M trả lại quyền sử dụng 1,3ha đất rừng nhưng không nhận định cũng như giải quyết gì đối với 787m2 đất còn lại. Như vậy, tòa sơ thẩm đã giải quyết thiếu yêu cầu của nguyên đơn, vi phạm Điều 5 BLTTDS.

(ii) Ngày 08/11/2017 Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phản tố của ông T về việc công nhận thực tế quản lý, sử dụng 7,86 ha đất rừng là của vợ chồng ông T. Tuy nhiên, theo lời khai của ông T thì gia đình ông quản lý sử dụng 7,86 ha đất rừng không có nguồn gốc và thời điểm sử dụng từ năm 1990 đất này chưa giao cho ai. Căn cứ Điều 9, Điều 105 Luật đất đai 2013 thì việc công nhận quyền sử dụng đất đối với người sử dụng đất ổn định, không có nguồn gốc thuộc thẩm quyền của UBND, không thuộc thẩm quyền của Tòa án. Cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết yêu cầu này, đã nhận định là không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhưng lại tuyên bác yêu cầu của ông T là giải quyết vượt quá thẩm quyền của Tòa án, vi phạm Điều 26 BLTTDS.

(iii) Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập với nội dung như nội dung đơn phản tố của ông T. Cấp sơ thẩm phải căn cứ khoản 2 Điều 201 BLTTDS để nhận định không xem xét giải quyết yêu cầu của bà M vì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm vẫn nhận định về yêu cầu độc lập này của bà M và tuyên không chấp nhận là vi phạm khoản 2 Điều 201 BLTTDS.

7. Bản án dân sự phúc thẩm số 293/2022/DS-PT ngày 10/5/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nội dung hủy án 

Trong tranh chấp này, bà Nguyễn Minh T14 được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp giữa bà và bà Phạm Ngọc A2 ( bà A2 cũng đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này).

Tuy nhiên, quyết định của bản án lại tuyên “Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Minh T14 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Ngọc A2 và bà Nguyễn Minh T14”.

Việc xác định và tuyên như trên của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng và có mâu thuẫn, đã ảnh hưởng đến quyền, phạm vi tố tụng của các đương sự trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định tại các Điều 200 và 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, và được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

8. Bản án dân sự phúc thẩm số 33/2022/DSPT ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tranh chấp quyền sở hữu nhà ở và đất ở, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu hủy văn bản công chứng và hủy phần cập nhật giấy chứng nhận

Nội dung hủy án 

Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, thấy rằng: theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện trước khi Ngân hàng ký kết hợp đồng nhận thế chấp tài sản (ngày 14/10/2008) thì Tòa án nhân dân Quận M đã thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp tài sản nói trên của ông T, bà H (ngày 08/7/2008).

Như vậy, khi Ngân hàng nhận thế chấp tài sản thì tài sản này đã bị tranh chấp. Mặt khác, tại thời điểm này tài sản thế chấp là nhà, đất do ông T, bà H là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng nhưng khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ trình tự, thủ tục nhận thế chấp của Ngân hàng có đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không. Từ đó mới có đủ cơ sở đánh giá giải quyết đúng vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Ngoài ra, theo trình bày của nguyên đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thì Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 11/02/2009 chưa chính xác so với hiện trạng sử dụng nhà đất tranh chấp, cấp sơ thẩm cần thực hiện lại việc xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ để giải quyết vụ án cho phù hợp.

9. Bản án dân sự phúc thẩm số 568/2023/DS-PT ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi tài sản là quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nội dung sửa án 

Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị Ngọc M1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy;

Ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị Ngọc M1 nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Xuân Th diện tích đất 245m2 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 32, tại xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/10/2020 tại Văn phòng Công chứng LVT, trong khi bà Ng vẫn đang ở trên diện tích đất này.

Trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Xuân Th trình bày về việc bà Ng tại căn nhà trên diện tích đất 245m2 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 32, tại xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, với lý do, bà Trần Thị Minh H với bà Trần Thị Th1 là chị em ruột; vào tháng 12/1994, bà H nhận chuyển nhượng đất của ông T1 với mục đích là để xây nhà cho bà Th1 và bà Ng sinh sống, do bà Th1 bị bệnh lao phổi và bà Ng là người tàn tật. Sau khi mua đất, bà H đã bỏ tiền ra xây nhà, mua vật liệu xây dựng cất nhà cho bà Th1 và bà Ng ở là ở nhờ và được bà H cho tiền sinh hoạt. Bà Th1 chết năm 2010, bà Ng là con bà Th1 bị tàn tật nên bà H vẫn để cho ở. Sau khi bà H được cấp GCNQSDĐ, đến ngày 20/11/2013, bà H lập Hợp đồng tặng cho bà Th phần đất này, theo đó bà Th đã được cấp GCNQSDĐ ngày 19/12/2013 và bà Th tiếp tục để cho bà Ng ở tại đây cho đến nay bà H và bà Th cũng chưa bao giờ có yêu cầu bà Ng trả lại nhà đất cho ở nhờ.

Ngày 08/10/2020, bà bà Trần Thị Xuân Th chuyển nhượng cho ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị Ngọc M1 diện tích đất 245m2 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 32, tại xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 08/10/2020 tại Văn phòng Công chứng LVT, trong khi bà Ng vẫn đang ở nhờ trên diện tích đất này. Tại khoản 1 Điều 3 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/10/2020 có ghi rõ thỏa thuận giữa hai bên: Bên A (Bên chuyển nhượng bà Trần Thị Xuân Th) có nghĩa vụ giao thửa đất tại Điều 1 của Hợp đồng này cùng giấy tờ về quyền sử dụng đất cho Bên B (Bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị Ngọc M1) vào thời điểm Hợp đồng này được công chứng tại Văn phòng Công chứng LVT. Theo đó nhận thấy, việc giao diện tích đất 245m2 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 32, tại xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, không phải nghĩa vụ của bà Ng mà là nghĩa vụ của bà Th, nhưng bà Th chưa thực hiện nghĩa vụ này, nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/10/2020 giữa bà Th với vợ chồng ông Đ, bà M1 chưa hoàn thành, các bên chưa giao nhận đất trên thực tế. Mặt khác, hiện nay còn có nhà bà Ng đang ở cùng với công trình và cây trái trên diện tích đất 245m2 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 32, tại xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, nhưng theo Hợp đồng thì ông Đ và bà M1 chỉ có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Th.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở nhận thấy, yêu cầu của ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị Ngọc M1 về việc buộc bà Ng di dời vật dụng cá nhân trả cho ông Đ và bà M1 phần đất diện tích 244,9m2, thửa đất số 81, tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại Ấp 2, xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh (trên phần đất có căn nhà cấp 4, nhà tạm, bệ nước, giàn gác bồn nước) theo GCNQSDĐ số CY 339203 do ông Đ, bà M1 đứng tên ngày 13/11/2020, là chưa đủ căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và quyết định chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đ và bà M1 là không đúng theo quy định tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015.

10. Bản án dân sự phúc thẩm số 03/2023/DS-PT ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đòi lại tài sản là nhà và quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng dân sự vay tài sản

Nội dung sửa án:

Ngoài ra, theo hồ sơ thể hiện thì tại giấy nhận tiền và cam kết ngày 01/6/2018 giữa vợ chồng ông D, bà H và vợ chồng ông Ph, bà T thể hiện nội dung “chúng con đã nhận đủ số tiền 5.000.000.000đ (năm tỷ đồng chẵn), chúng con cam kết dùng số tiền này để mua đất xây nhà cho ba mẹ, khi muốn vay vốn Ngân hàng, chúng con sẽ báo trước cho cha mẹ được biết và số tiền vay không quá 2.000.000.000đ và chỉ thực hiện một lần, chúng con xin cam đoan sẽ không được thực hiện các nội dung sau không chuyển nhượng nhà, đất hoặc các tài sản gắn liền với đất...”.

Đồng thời, tại giấy xác nhận sự việc ngày 01/02/2020 và đơn xin xác nhận sự việc ngày 04/02/2020 có xác nhận của tổ dân phố và Đảng ủy phường 6, thành phố Đ thể hiện sự việc nhận chuyển nhượng đất và hình thành tài sản trên đất. Vợ chồng ông Ph, bà T cho rằng nguồn gốc nhà đất tọa lạc tại số 07, hẻm N, Phường 6, thành phố Đ có nguồn gốc là của vợ chồng ông Ph, bà T đưa tiền cho vợ chồng ông D, bà H đứng ra nhận chuyển nhượng nhà đất và đứng tên trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất để thuận tiện trong việc vay vốn Ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án bà H thừa nhận nhà đất nói trên là do bà H nhận chuyển nhượng đất của bà Ng, tiền chuyển nhượng là của vợ chồng ông Ph, bà T, sau đó vợ chồng ông Ph, bà T xây nhà và ở tại căn nhà nói trên từ đó đến nay, bà H đại diện cho ông D đồng ý trả lại nhà đất nói trên cho vợ chồng ông Ph, bà T.

Do đó có căn cứ xác định căn nhà, quyền sử dụng đất hiện nay các bên đang tranh chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông Ph, bà T. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của vợ chồng ông Ph, bà T là chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như thực tế khách quan.