Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào?

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tham gia một hợp đồng bảo hiểm nhưng do điều kiện tài chính thay đổi nên tôi đang cân nhắc việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Tuy nhiên, tôi không rõ liệu mình có quyền đơn phương chấm dứt hay không và nếu chấm dứt thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quyền lợi đã đóng trước đó. Tôi cũng lo ngại có thể phát sinh nghĩa vụ hoặc chi phí nào khác khi thực hiện việc này. Vậy đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.

MỤC LỤC

1. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm được thực hiện như thế nào?

2. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm là gì?

 

Trả lời:

1. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm được thực hiện như thế nào?

Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm, không phải lúc nào hợp đồng cũng được duy trì đến hết thời hạn đã thỏa thuận. Khi xuất hiện những căn cứ nhất định, pháp luật cho phép một bên được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời bảo đảm sự công bằng trong quan hệ bảo hiểm. Cụ thể, tại Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 chi tiết như sau:

Điều 26. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp sau đây:

1. Bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận hoặc sau thời gian gia hạn đóng phí;

2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm không chấp nhận yêu cầu về thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm quy định tại Điều 23 của Luật này;

3. Người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;

4. Bên mua bảo hiểm không đồng ý chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật này.”

Dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 55, khoản 4 Điều 92 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 chi tiết như sau:

Điều 55. Các quy định về an toàn

...

3. Trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó. Nếu hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.”

Điều 92. Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm

...

4. Trường hợp không đồng ý với việc chuyển giao, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.”

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp:

Thứ nhất, bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận hoặc sau thời gian gia hạn đóng phí. Đây là căn cứ phổ biến vì nghĩa vụ đóng phí là nghĩa vụ cơ bản của bên mua bảo hiểm.

Thứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm không chấp nhận yêu cầu về thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm theo Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. Điều này thể hiện sự linh hoạt trong việc xử lý khi có sự biến động về rủi ro nhưng các bên không đạt được sự thống nhất.

Thứ ba, nếu người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm theo khoản 3 Điều 55 Luật Kinh doanh bảo hiểm, làm gia tăng nguy cơ xảy ra tổn thất, thì đây cũng là căn cứ để đơn phương chấm dứt hợp đồng nhằm hạn chế rủi ro.

Thứ tư, bên mua bảo hiểm không đồng ý chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm theo khoản 4 Điều 92 Luật Kinh doanh bảo hiểm, nhằm bảo đảm quyền tự quyết của bên mua bảo hiểm nhưng đồng thời cũng cho phép doanh nghiệp bảo hiểm chấm dứt quan hệ nếu không đạt được sự đồng thuận.

Như vậy, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm không phải là quyền tùy ý mà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ cụ thể do pháp luật quy định. Đây được coi cơ chế pháp lý quan trọng giúp các bên chủ động xử lý khi quan hệ hợp đồng không còn phù hợp hoặc phát sinh vi phạm. Sự ghi nhận này không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên mà còn góp phần duy trì sự ổn định, minh bạch và an toàn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

2. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm là gì?

Việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm không chỉ làm chấm dứt quan hệ hợp đồng mà còn kéo theo những hậu quả pháp lý cụ thể đối với quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó, nhằm bảo đảm quyền lợi và sự công bằng giữa các bên, Điều 27 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã xác định rõ:

Điều 27. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm

1. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này thì thực hiện như sau:

a) Bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, trừ hợp đồng bảo hiểm nhóm;

b) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm;

c) Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm hoàn phí bảo hiểm đã đóng cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

3. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 của Luật này, đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có giá trị hoàn lại, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

4. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 4 Điều 26 của Luật này, bên mua bảo hiểm được nhận lại giá trị hoàn lại hoặc phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm phù hợp với từng sản phẩm bảo hiểm. Trường hợp giá trị tài sản thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, số tiền bên mua bảo hiểm nhận lại được tính toán trên cơ sở tỷ lệ giữa giá trị tài sản và dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.”

Theo đó, nếu đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo khoản 1 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 thì thực hiện như sau:

- Bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, nội dung này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, trừ hợp đồng bảo hiểm nhóm;

- Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

- Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Nếu đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo khoản 2 và khoản 3 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm hoàn phí bảo hiểm đã đóng cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Đồng thời, còn có trách nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

Nếu đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo khoản 1 và khoản 2 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có giá trị hoàn lại, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo khoản 4 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm được nhận lại giá trị hoàn lại hoặc phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm phù hợp với từng sản phẩm bảo hiểm. Trường hợp giá trị tài sản thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, số tiền bên mua bảo hiểm nhận lại được tính toán trên cơ sở tỷ lệ giữa giá trị tài sản và dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.

Như vậy, hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm được xây dựng trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên, đồng thời gắn với từng nguyên nhân chấm dứt cụ thể. Những nội dung này không chỉ giúp xử lý hợp lý các tình huống phát sinh trong thực tiễn mà còn góp phần duy trì sự minh bạch, ổn định và công bằng trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm.

Trân trọng./.