Phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô của các tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được xác định như thế nào?
Phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô của các tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được xác định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có nghe nói các tổ chức tương hỗ cũng được phép cung cấp bảo hiểm vi mô cho người dân, nhưng không rõ mức phí của loại bảo hiểm này được xác định dựa trên những căn cứ nào và có khác với doanh nghiệp bảo hiểm thông thường hay không? Tôi muốn biết pháp luật quy định như thế nào về phương pháp và cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô của các tổ chức tương hỗ, họ phải dựa vào những yếu tố nào để tính phí nhằm bảo đảm phù hợp với khả năng tài chính của người tham gia nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi bảo hiểm? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!
MỤC LỤC
Trả lời:
1. Thông báo về việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng được quy định thực hiện như thế nào?
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính – bảo hiểm, việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng ngày càng trở nên phổ biến. Để bảo đảm hoạt động này được thực hiện minh bạch, có sự quản lý của cơ quan nhà nước và phù hợp với quy định pháp luật, pháp luật Việt Nam đã đặt ra nghĩa vụ thông báo đối với các tổ chức khi triển khai cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng. Cụ thể tại Điều 6 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) như sau:
“Điều 6. Thông báo về việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thông báo cho Bộ Tài chính về việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ thời điểm thực hiện cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng các thông tin về doanh nghiệp, dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm, hình thức tổ chức cung cấp và các thông tin khác liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thông báo cho Bộ Tài chính thông tin nêu tại Phụ lục II đối với các dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm đang được cung cấp trên môi trường mạng trước ngày Thông tư này có hiệu lực.”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thông báo cho Bộ Tài chính về việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ thời điểm thực hiện cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng các thông tin về doanh nghiệp, dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm, hình thức tổ chức cung cấp và các thông tin khác liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 67/2023/TT-BTC.
Ngoài ra, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Thông tư số 67/2023/TT-BTC có hiệu lực, tức trong 90 ngày kể từ ngày 02/11/2023, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thông báo cho Bộ Tài chính thông tin nêu tại Phụ lục II đối với các dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm đang được cung cấp trên môi trường mạng trước ngày Thông tư số 67/2023/TT-BTC có hiệu lực.
Sự ghi nhận này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, kiểm soát và nắm bắt kịp thời các hoạt động cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng. Đồng thời, nó cũng góp phần bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm khi tham gia các giao dịch bảo hiểm trực tuyến.
2. Phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô của các tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được xác định như thế nào?
Bảo hiểm vi mô là công cụ tài chính quan trọng nhằm bảo vệ những nhóm đối tượng có thu nhập thấp trước các rủi ro trong cuộc sống. Để bảo đảm sản phẩm vừa phù hợp với khả năng tài chính của người tham gia, vừa duy trì sự an toàn, bền vững của tổ chức cung cấp bảo hiểm, pháp luật đã ghi nhận cụ thể về phương pháp và cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô của các tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô tại Điều 23 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) như sau:
“Điều 23. Phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô của các tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được chủ động trong việc sử dụng các phương pháp để tính toán phí bảo hiểm cho các thành viên trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu sau đây:
a) Phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm an toàn tài chính của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và phải tương ứng với điều kiện, quyền lợi cung cấp cho thành viên tham gia bảo hiểm;
b) Phí bảo hiểm phải bảo đảm tính hợp lý, công bằng với các thành viên tham gia bảo hiểm;
c) Đối với các quyền lợi bảo hiểm nhân thọ và sức khỏe, phí bảo hiểm phải được xác định dựa trên cơ sở tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và các đặc điểm khác của thành viên tham gia bảo hiểm phù hợp với đặc trưng của từng sản phẩm. Trường hợp áp dụng một mức phí chung cho các thành viên, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải thể hiện rõ nguyên tắc, phương pháp xác định mức phí chung đó;
d) Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải đăng ký với Bộ Tài chính các nguyên tắc tăng, giảm phí cho các thành viên trên cơ sở kết quả hoạt động bảo hiểm vi mô và phù hợp với điều lệ của tổ chức.
2. Phí bảo hiểm thuần của sản phẩm bảo hiểm vi mô được xác định trên cơ sở các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm từ một trong số các nguồn sau:
a) Bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 ban hành kèm theo Phụ lục V Thông tư này hoặc các tỷ lệ tử vong khác phù hợp với đặc tính của sản phẩm;
b) Số liệu thực tế triển khai của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô trong thời gian 05 năm liên tiếp hoặc tương ứng với thời gian hoạt động nếu tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô hoạt động chưa đủ 05 năm;
c) Thông tin, số liệu do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công bố;
d) Các nguồn tham chiếu khác bao gồm: tỷ lệ rủi ro của các thị trường bảo hiểm tương tự thị trường bảo hiểm Việt Nam; tỷ lệ do doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp; tỷ lệ điều chỉnh từ tỷ lệ của doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp nhằm phù hợp với thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong trường hợp này, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm chứng minh tính phù hợp, hợp lý của việc sử dụng các nguồn tham chiếu đó.
3. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô căn cứ số liệu thống kê về chi phí triển khai bảo hiểm vi mô và kế hoạch triển khai sản phẩm để xác định tỷ lệ chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm trong phí bảo hiểm gộp. Trường hợp chưa có số liệu thống kê, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được chủ động áp dụng tỷ lệ chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm tối đa không quá 60% phí bảo hiểm gộp.
4. Trường hợp sửa đổi, bổ sung cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm vi mô đã đăng ký với Bộ Tài chính, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải chứng minh được tính phù hợp của việc sửa đổi, bổ sung căn cứ trên số liệu thống kê trong thời gian triển khai sản phẩm và có xác nhận của chuyên gia tính toán bảo hiểm vi mô.”
Theo đó, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được chủ động trong việc sử dụng các phương pháp để tính toán phí bảo hiểm cho các thành viên. Tuy nhiên, việc này phải dựa trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm an toàn tài chính của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và phải tương ứng với điều kiện, quyền lợi cung cấp cho thành viên tham gia bảo hiểm;
- Phí bảo hiểm phải bảo đảm tính hợp lý, công bằng với các thành viên tham gia bảo hiểm;
- Đối với các quyền lợi bảo hiểm nhân thọ và sức khỏe, phí bảo hiểm phải được xác định dựa trên cơ sở tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và các đặc điểm khác của thành viên tham gia bảo hiểm phù hợp với đặc trưng của từng sản phẩm. Trường hợp áp dụng một mức phí chung cho các thành viên, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải thể hiện rõ nguyên tắc, phương pháp xác định mức phí chung đó;
- Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải đăng ký với Bộ Tài chính các nguyên tắc tăng, giảm phí cho các thành viên trên cơ sở kết quả hoạt động bảo hiểm vi mô và phù hợp với điều lệ của tổ chức.
Quy định này tạo sự linh hoạt cho tổ chức tương hỗ trong hoạt động định phí nhưng vẫn đặt ra các nguyên tắc kiểm soát cần thiết, bảo đảm mức phí được xác định khách quan, công bằng và phù hợp với đặc điểm của từng nhóm thành viên. Bên cạnh đó, phí bảo hiểm thuần của sản phẩm bảo hiểm vi mô phải được xác định trên cơ sở các tỷ lệ rủi ro bảo hiểm từ một trong số các nguồn sau:
- Bảng tỷ lệ tử vong CSO 1980 ban hành kèm theo Phụ lục V Thông tư số 67/2023/TT-BTC hoặc các tỷ lệ tử vong khác phù hợp với đặc tính của sản phẩm;
- Số liệu thực tế triển khai của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô trong thời gian 05 năm liên tiếp hoặc tương ứng với thời gian hoạt động nếu tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô hoạt động chưa đủ 05 năm;
- Thông tin, số liệu do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công bố;
- Các nguồn tham chiếu khác bao gồm: tỷ lệ rủi ro của các thị trường bảo hiểm tương tự thị trường bảo hiểm Việt Nam; tỷ lệ do doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp; tỷ lệ điều chỉnh từ tỷ lệ của doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổ chức nhận tái bảo hiểm cung cấp nhằm phù hợp với thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong trường hợp này, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm chứng minh tính phù hợp, hợp lý của việc sử dụng các nguồn tham chiếu đó.
Ta có thể thấy, nội dung trên về các nguồn dữ liệu được sử dụng để xác định phí bảo hiểm thuần giúp tổ chức tương hỗ có nhiều căn cứ để xây dựng mức phí phù hợp với mức độ rủi ro thực tế. Việc cho phép sử dụng nhiều nguồn dữ liệu nhưng yêu cầu phải chứng minh tính hợp lý của các nguồn tham chiếu góp phần nâng cao tính khách quan và độ tin cậy của quá trình định phí. Điều này vừa bảo đảm quyền lợi của thành viên tham gia bảo hiểm, vừa hạn chế nguy cơ định phí quá cao hoặc quá thấp, ảnh hưởng đến khả năng chi trả của tổ chức.
Ngoài ra, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô sẽ căn cứ vào số liệu thống kê về chi phí triển khai bảo hiểm vi mô và kế hoạch triển khai sản phẩm để xác định tỷ lệ chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm trong phí bảo hiểm gộp. Nếu chưa có số liệu thống kê, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được chủ động áp dụng tỷ lệ chi phí triển khai sản phẩm bảo hiểm tối đa không quá 60% phí bảo hiểm gộp. Việc xác định tỷ lệ chi phí triển khai sản phẩm trên cơ sở số liệu thống kê và kế hoạch hoạt động giúp phản ánh đúng chi phí thực tế mà tổ chức tương hỗ phải bỏ ra trong quá trình cung cấp bảo hiểm vi mô. Đồng thời, xác định mức trần chi phí khi chưa có số liệu thống kê là cơ chế kiểm soát cần thiết nhằm tránh tình trạng đưa chi phí quá lớn vào phí bảo hiểm. Qua đó, mức phí được xây dựng hợp lý hơn, góp phần bảo vệ quyền lợi của thành viên và bảo đảm hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Nếu sửa đổi, bổ sung cơ sở tính phí sản phẩm bảo hiểm vi mô đã đăng ký với Bộ Tài chính, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải chứng minh được tính phù hợp của việc sửa đổi, bổ sung căn cứ trên số liệu thống kê trong thời gian triển khai sản phẩm và có xác nhận của chuyên gia tính toán bảo hiểm vi mô. Cơ chế này bảo đảm mọi thay đổi về cơ sở tính phí đều dựa trên dữ liệu thực tế và đánh giá chuyên môn, qua đó hạn chế việc điều chỉnh tùy tiện và tăng cường sự minh bạch trong hoạt động bảo hiểm vi mô.
Nhìn chung, các quy định về phương pháp và cơ sở tính phí bảo hiểm vi mô đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động định phí của các tổ chức tương hỗ. Việc kết hợp giữa quyền chủ động của tổ chức với các yêu cầu về dữ liệu thống kê, tính minh bạch và sự giám sát của cơ quan quản lý giúp bảo đảm mức phí được xác định hợp lý, công bằng và phù hợp với mức độ rủi ro thực tế. Qua đó, không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên tham gia bảo hiểm mà còn góp phần duy trì an toàn tài chính của tổ chức tương hỗ, nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình bảo hiểm vi mô và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm tại Việt Nam.
Trân trọng./.