Điều kiện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm được quy định như thế nào?

Điều kiện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang có ý định mua bảo hiểm của một doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và cũng nghe nói nhiều hợp đồng bảo hiểm còn được chuyển cho doanh nghiệp nước ngoài nhận tái bảo hiểm. Tuy nhiên, tôi không biết các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài này phải đáp ứng những điều kiện gì mới được phép hoạt động hoặc nhận tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Hợp đồng bảo hiểm là gì?

2. Điều kiện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Hợp đồng bảo hiểm là gì?

Trong đời sống hiện đại, bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và bù đắp những rủi ro có thể xảy ra đối với con người và tài sản. Để xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động bảo hiểm, pháp luật quy định việc giao kết thông qua hợp đồng bảo hiểm. Việc hiểu rõ khái niệm hợp đồng bảo hiểm giúp các chủ thể tham gia bảo hiểm nhận thức đúng bản chất pháp lý cũng như trách nhiệm của mình khi tham gia quan hệ này. Cụ thể tại khoản 16 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

16. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.”

Theo đó, hợp đồng bảo hiểm có thể được hiểu là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Như vậy, quy định của pháp luật đã làm rõ khái niệm hợp đồng bảo hiểm và xác định đây là căn cứ pháp lý quan trọng trong quan hệ bảo hiểm. Thông qua hợp đồng bảo hiểm, các bên có cơ sở để xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra rủi ro. Đồng thời, việc tuân thủ đúng các quy định về hợp đồng bảo hiểm cũng góp phần bảo đảm tính minh bạch, an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

2. Điều kiện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm được quy định như thế nào?

Trong hoạt động tái bảo hiểm, việc lựa chọn doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng phân tán rủi ro và bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như người được bảo hiểm. Nếu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không có năng lực tài chính hoặc không đáp ứng các tiêu chuẩn về khả năng thanh toán thì nguy cơ không thực hiện được nghĩa vụ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm là rất lớn. Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã đặt ra những điều kiện cụ thể đối với doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài và tổ chức bảo hiểm nước ngoài khi tham gia nhận tái bảo hiểm từ các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam. Cụ thể tại Điều 33 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm như sau:

Điều 33. Điều kiện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm đang hoạt động hợp pháp và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về khả năng thanh toán theo quy định pháp luật của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính.

2. Doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm từ 10% tổng mức trách nhiệm của mỗi hợp đồng tái bảo hiểm phải được xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s hoặc Fitch, “B++” theo A.M.Best, “Baal” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng tương đương của các tổ chức có chức năng, kinh nghiệm xếp hạng khác tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm giao kết hợp đồng tái bảo hiểm.

3. Trường hợp tái bảo hiểm cho công ty mẹ ở nước ngoài hoặc các công ty trong cùng tập đoàn mà công ty này không có đánh giá xếp hạng tín nhiệm theo quy định nêu trên thì doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải nộp Bộ Tài chính văn bản của cơ quan quản lý bảo hiểm nước ngoài nơi công ty nhận tái bảo hiểm đóng trụ sở chính xác nhận công ty nhận tái bảo hiểm ở nước ngoài bảo đảm khả năng thanh toán tại năm tài chính liền kề năm nhận tái bảo hiểm.”

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm phải đang hoạt động hợp pháp và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về khả năng thanh toán theo quy định pháp luật của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không chỉ có tư cách pháp lý hợp lệ mà còn phải duy trì năng lực tài chính đủ mạnh để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tái bảo hiểm.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm và doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm từ 10% tổng mức trách nhiệm của mỗi hợp đồng tái bảo hiểm phải được xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s hoặc Fitch, “B++” theo A.M.Best, “Baal” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng tương đương của các tổ chức có chức năng, kinh nghiệm xếp hạng khác tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm giao kết hợp đồng tái bảo hiểm. Việc yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn tín nhiệm quốc tế giúp đánh giá khách quan năng lực tài chính, khả năng thanh toán cũng như mức độ an toàn của doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trước khi ký kết hợp đồng. Đồng thời, đây cũng là cơ chế kiểm soát rủi ro hiệu quả, hạn chế nguy cơ đối tác mất khả năng thực hiện nghĩa vụ khi phát sinh tổn thất lớn.

Ngoài ra, nếu tái bảo hiểm cho công ty mẹ ở nước ngoài hoặc các công ty trong cùng tập đoàn mà công ty này không có đánh giá xếp hạng tín nhiệm theo quy định nêu trên thì doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải nộp Bộ Tài chính văn bản của cơ quan quản lý bảo hiểm nước ngoài nơi công ty nhận tái bảo hiểm đóng trụ sở chính xác nhận công ty nhận tái bảo hiểm ở nước ngoài bảo đảm khả năng thanh toán tại năm tài chính liền kề năm nhận tái bảo hiểm. Như vậy, mặc dù pháp luật cho phép áp dụng cơ chế ngoại lệ đối với các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, nhưng vẫn yêu cầu phải có tài liệu xác nhận từ cơ quan quản lý có thẩm quyền nhằm chứng minh năng lực tài chính của doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm. Điều này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tái bảo hiểm nội bộ trong các tập đoàn bảo hiểm quốc tế, vừa bảo đảm việc miễn điều kiện về xếp hạng tín nhiệm không làm gia tăng rủi ro đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đồng thời, yêu cầu xác nhận của cơ quan quản lý nước ngoài giúp tăng tính minh bạch và bảo đảm an toàn tài chính trong hoạt động tái bảo hiểm.

Từ đó, ta thấy rằng điều khoản trên đã thiết lập hệ thống điều kiện chặt chẽ đối với doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài và tổ chức bảo hiểm nước ngoài khi nhận tái bảo hiểm từ Việt Nam. Các tiêu chí về tính hợp pháp trong hoạt động, khả năng thanh toán, xếp hạng tín nhiệm quốc tế và cơ chế xác nhận đối với trường hợp ngoại lệ không chỉ giúp doanh nghiệp bảo hiểm lựa chọn được đối tác có năng lực tài chính vững mạnh mà còn góp phần bảo đảm an toàn cho hoạt động tái bảo hiểm, tăng cường sự ổn định của thị trường bảo hiểm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm.

Trân trọng./.