Các trường hợp nào phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm?

Các trường hợp nào phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tham gia một hợp đồng bảo hiểm còn thời hạn thì bất ngờ nhận được thông báo rằng hợp đồng của mình sẽ được chuyển sang một doanh nghiệp bảo hiểm khác quản lý. Điều này khiến tôi rất lo lắng vì không biết trong những trường hợp nào doanh nghiệp bảo hiểm được phép chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm, việc chuyển giao có ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng hay không và người mua bảo hiểm có cần thực hiện thêm thủ tục gì? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Hợp đồng bảo hiểm là gì?

2. Các trường hợp nào phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm?

 

Trả lời:

1. Hợp đồng bảo hiểm là gì?

Trong đời sống hiện đại, bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và bù đắp những rủi ro có thể xảy ra đối với con người và tài sản. Để xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động bảo hiểm, pháp luật quy định việc giao kết thông qua hợp đồng bảo hiểm. Việc hiểu rõ khái niệm hợp đồng bảo hiểm giúp các chủ thể tham gia bảo hiểm nhận thức đúng bản chất pháp lý cũng như trách nhiệm của mình khi tham gia quan hệ này. Cụ thể tại khoản 16 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

16. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.”

Theo đó, hợp đồng bảo hiểm có thể được hiểu là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Như vậy, quy định của pháp luật đã làm rõ khái niệm hợp đồng bảo hiểm và xác định đây là căn cứ pháp lý quan trọng trong quan hệ bảo hiểm. Thông qua hợp đồng bảo hiểm, các bên có cơ sở để xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra rủi ro. Đồng thời, việc tuân thủ đúng các quy định về hợp đồng bảo hiểm cũng góp phần bảo đảm tính minh bạch, an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

2. Các trường hợp nào phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm?

Trong một số trường hợp nhất định, doanh nghiệp bảo hiểm không thể tiếp tục thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết. Để bảo đảm quyền lợi của khách hàng cũng như sự liên tục của hoạt động bảo hiểm, pháp luật quy định các trường hợp phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp khác đủ điều kiện tiếp nhận. Cụ thể, Điều 91 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 ghi nhận như sau:

Điều 91. Các trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm

Việc chuyển giao toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm, tài sản và trách nhiệm tương ứng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thực hiện trong trường hợp sau đây:

1. Theo yêu cầu của Bộ Tài chính quy định tại điểm c và điểm d khoản 8 Điều 113 của Luật này;

2. Thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động;

3. Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động;

4. Các trường hợp quy định tại các điểm a, d và e khoản 1 Điều 75 của Luật này.”

Dẫn chiếu đến điểm c, d khoản 8 Điều 113; điểm a, d và e khoản 1 Điều 75 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 ghi nhận như sau:

Điều 113. Biện pháp kiểm soát

...

8. Trong thời hạn quy định tại khoản 4 Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 5 Điều này mà không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn thì tùy theo tính chất, mức độ, rủi ro, Bộ Tài chính thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:

...

c) Yêu cầu chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm;

d) Chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác góp vốn, mua cổ phần, nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bị kiểm soát.”

Điều 75. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp giấy phép;

...

d) Hoạt động không đúng với nội dung tại giấy phép thành lập và hoạt động;

...

e) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép.”

Theo đó, việc chuyển giao toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm, tài sản và trách nhiệm tương ứng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thực hiện trong trường hợp sau đây:

Thứ nhất, việc chuyển giao được thực hiện theo yêu cầu của Bộ Tài chính. Cụ thể, nếu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm hoặc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục hoặc không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn trong thời hạn luật định thì tùy theo tính chất và mức độ rủi ro, Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm hoặc chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác góp vốn, mua cổ phần hoặc nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp này cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước chủ động can thiệp khi doanh nghiệp bảo hiểm gặp khó khăn về tài chính, góp phần duy trì khả năng thực hiện các cam kết bảo hiểm và bảo đảm sự ổn định của thị trường.

Thứ hai, thực hiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm khi thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động. Việc thu hẹp hoạt động có thể xuất phát từ chiến lược tái cơ cấu, điều chỉnh mô hình kinh doanh hoặc tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực hoạt động hiệu quả hơn. Trong trường hợp này, việc chuyển giao danh mục hợp đồng giúp các hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực tiếp tục được thực hiện bởi doanh nghiệp có đủ điều kiện tiếp nhận.

Thứ ba, việc chuyển giao áp dụng khi doanh nghiệp bị chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động. Đây đều là những sự kiện làm thay đổi tư cách pháp lý hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp tục thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết. Vì vậy, việc chuyển giao danh mục hợp đồng là giải pháp cần thiết để bảo đảm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng không bị gián đoạn.

Thứ tư, trường hợp mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động do:

- Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp giấy phép;

- Hoạt động không đúng với nội dung tại giấy phép thành lập và hoạt động;

- Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép.

Trong những trường hợp này, doanh nghiệp không còn đủ điều kiện để tiếp tục hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật, do đó việc chuyển giao danh mục hợp đồng là cần thiết nhằm bảo đảm các hợp đồng bảo hiểm vẫn được tiếp tục thực hiện bởi doanh nghiệp khác có đủ năng lực. Từ đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép hoặc không còn đủ điều kiện hoạt động, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực đến thị trường bảo hiểm và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.

Vậy là, điều khoản trên đã xác định rõ những trường hợp phải thực hiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm, bao gồm cả trường hợp phát sinh từ yêu cầu quản lý của Nhà nước và những trường hợp xuất phát từ nhu cầu tổ chức, tái cơ cấu hoặc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Cơ chế này không chỉ bảo đảm tính liên tục trong việc thực hiện các hợp đồng bảo hiểm mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng, qua đó duy trì sự ổn định, an toàn và phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm.

Trân trọng./.