Quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?

Quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Doanh nghiệp của tôi đang tìm hiểu về hoạt động tái bảo hiểm và được biết ngoài việc ký kết hợp đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm còn phải xây dựng, quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tôi chưa rõ chương trình này phải được xây dựng trên những nguyên tắc nào, quản lý ra sao và cần đáp ứng những yêu cầu gì để bảo đảm an toàn tài chính cũng như khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm được quy định như thế nào?

2. Quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm được quy định như thế nào?

Căn cứ tại Điều 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã chi tiết về trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm như sau:

Điều 29. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được từ chối hoặc trì hoãn thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên mua bảo hiểm kể cả trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận.

2. Doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

3. Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.”

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được từ chối hoặc trì hoãn thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên mua bảo hiểm kể cả trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, nhằm tách biệt quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và bên nhận tái bảo hiểm, tránh phát sinh nghĩa vụ ngoài hợp đồng ban đầu.

Không những vậy, bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Điều này khẳng định rõ ràng rằng trách nhiệm chi trả vẫn thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm gốc, còn quan hệ tái bảo hiểm chỉ mang tính nội bộ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.

Như vậy, trong trường hợp tái bảo hiểm, pháp luật xác lập nguyên tắc quan trọng là doanh nghiệp bảo hiểm ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn diện đối với bên mua bảo hiểm. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm mà còn bảo đảm sự minh bạch, ổn định của quan hệ hợp đồng, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động tái bảo hiểm phát triển an toàn và hiệu quả.

2. Quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?

Chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm là một trong những công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp bảo hiểm quản trị rủi ro, bảo đảm khả năng thanh toán và duy trì hoạt động kinh doanh an toàn, bền vững. Tuy nhiên, để chương trình này phát huy hiệu quả, doanh nghiệp không chỉ cần xây dựng kế hoạch phù hợp mà còn phải tổ chức triển khai, giám sát và thường xuyên cập nhật theo diễn biến của thị trường. Chính vì vậy, Điều 34 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) đã đặt ra các yêu cầu cụ thể về việc quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam như sau:

Điều 34. Quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm

1. Phê duyệt chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm:

a) Để đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên) hoặc Tổng Giám đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, Giám đốc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm phê duyệt chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm phù hợp với năng lực tài chính, quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, chi nhánh và các quy định pháp luật hiện hành; xem xét, đánh giá, điều chỉnh chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm theo định kỳ hàng năm hoặc khi tình hình thị trường có sự thay đổi;

b) Chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

- Xác định khả năng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;

- Xác định mức giữ lại phù hợp với rủi ro bảo hiểm được chấp nhận, những giới hạn về mức giữ lại trên một đơn vị rủi ro và mức bảo vệ tối đa từ doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm;

- Xác định các loại hình và phương thức tái bảo hiểm phù hợp nhất với việc quản lý các rủi ro được chấp nhận;

- Phương thức, tiêu chuẩn, quy trình lựa chọn doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm, bao gồm cách thức đánh giá mức độ rủi ro và an toàn tài chính của doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm;

- Danh sách các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm dự kiến sẽ nhận tái bảo hiểm, lưu ý đến sự đa dạng hóa và xếp hạng các nhà nhận tái bảo hiểm;

- Phương thức sử dụng khoản tiền đặt cọc của doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm (nếu có);

- Quản lý rủi ro tích tụ đối với những lĩnh vực, vùng địa lý và các loại sản phẩm đặc thù;

- Cách thức kiểm soát chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm bao gồm hệ thống báo cáo và kiểm soát nội bộ.

2. Tổ chức thực hiện chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm:

Trên cơ sở chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm đã được phê duyệt, Tổng Giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, Giám đốc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm ban hành quy trình, hướng dẫn nội bộ về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, bao gồm:

a) Xác định giới hạn trách nhiệm tự động được bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm cố định đối với mỗi loại hình bảo hiểm;

b) Xây dựng tiêu chuẩn đối với các hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời;

c) Đối chiếu các quy tắc, điều kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm gốc với điều khoản của hợp đồng tái bảo hiểm để đảm bảo mỗi rủi ro đều được tái bảo hiểm.

3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm cập nhật thường xuyên danh sách các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm, kèm theo các thông tin về mức độ rủi ro, khả năng, mức độ sẵn sàng chi trả bồi thường tương ứng với trách nhiệm đã nhận tái bảo hiểm; yêu cầu đặt cọc tương ứng với mức độ rủi ro và hệ số tín nhiệm của từng doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm (nếu có).”

Theo đó, chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm phải được phê duyệt theo cơ chế phù hợp. Cụ thể, để đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên) hoặc Tổng Giám đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, Giám đốc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm phê duyệt chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm phù hợp với năng lực tài chính, quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, chi nhánh và các quy định pháp luật hiện hành; xem xét, đánh giá, điều chỉnh chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm theo định kỳ hàng năm hoặc khi tình hình thị trường có sự thay đổi.

Để bảo đảm tính toàn diện trong quản trị rủi ro, chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm cần cần các nội dung sau:

- Xác định khả năng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;

- Xác định mức giữ lại phù hợp với rủi ro bảo hiểm được chấp nhận, những giới hạn về mức giữ lại trên một đơn vị rủi ro và mức bảo vệ tối đa từ doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm;

- Xác định các loại hình và phương thức tái bảo hiểm phù hợp nhất với việc quản lý các rủi ro được chấp nhận;

- Phương thức, tiêu chuẩn, quy trình lựa chọn doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm, bao gồm cách thức đánh giá mức độ rủi ro và an toàn tài chính của doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm;

- Danh sách các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm dự kiến sẽ nhận tái bảo hiểm, lưu ý đến sự đa dạng hóa và xếp hạng các nhà nhận tái bảo hiểm;

- Phương thức sử dụng khoản tiền đặt cọc của doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm (nếu có);

- Quản lý rủi ro tích tụ đối với những lĩnh vực, vùng địa lý và các loại sản phẩm đặc thù;

- Cách thức kiểm soát chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm bao gồm hệ thống báo cáo và kiểm soát nội bộ.

Việc yêu cầu xây dựng và phê duyệt chương trình tái bảo hiểm theo một quy trình chặt chẽ giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát rủi ro ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. Đồng thời, việc thường xuyên rà soát và điều chỉnh chương trình theo diễn biến của thị trường góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, bảo đảm hoạt động tái bảo hiểm luôn phù hợp với năng lực tài chính và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

Sau khi chương trình đã được phê duyệt, doanh nghiệp cần tổ chức thực hiện chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm một cách thống nhất thông qua các quy trình và hướng dẫn nội bộ. Theo đó, trên cơ sở chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm đã được phê duyệt, Tổng Giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, Giám đốc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm ban hành quy trình, hướng dẫn nội bộ về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, bao gồm:

- Xác định giới hạn trách nhiệm tự động được bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm cố định đối với mỗi loại hình bảo hiểm;

- Xây dựng tiêu chuẩn đối với các hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời;

- Đối chiếu các quy tắc, điều kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm gốc với điều khoản của hợp đồng tái bảo hiểm để đảm bảo mỗi rủi ro đều được tái bảo hiểm.

Những yêu cầu này giúp thống nhất cách thức triển khai chương trình tái bảo hiểm trong toàn doanh nghiệp, hạn chế sai sót trong quá trình thực hiện và bảo đảm mỗi rủi ro được bảo vệ đúng theo kế hoạch đã xây dựng. Đây cũng là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ và hạn chế các tranh chấp có thể phát sinh trong hoạt động tái bảo hiểm.

Bên cạnh việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, doanh nghiệp còn phải thường xuyên cập nhật thông tin về các đối tác nhận tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm cập nhật thường xuyên danh sách các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm, kèm theo các thông tin về mức độ rủi ro, khả năng, mức độ sẵn sàng chi trả bồi thường tương ứng với trách nhiệm đã nhận tái bảo hiểm; yêu cầu đặt cọc tương ứng với mức độ rủi ro và hệ số tín nhiệm của từng doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm (nếu có).

Việc cập nhật liên tục các thông tin này giúp doanh nghiệp kịp thời đánh giá sự thay đổi về năng lực tài chính và mức độ an toàn của các đối tác nhận tái bảo hiểm để có phương án điều chỉnh phù hợp. Đây là cơ chế giúp doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình trạng tài chính và khả năng thực hiện nghĩa vụ của các đối tác nhận tái bảo hiểm, từ đó giảm thiểu rủi ro trong trường hợp đối tác mất khả năng thanh toán hoặc suy giảm năng lực tài chính. Đồng thời, việc đánh giá định kỳ cũng góp phần nâng cao tính chủ động và an toàn trong hoạt động tái bảo hiểm.

Vậy là, Điều 34 Thông tư số 67/2023/TT-BTC đã xây dựng một cơ chế quản lý chương trình tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm theo hướng toàn diện, từ khâu xây dựng và phê duyệt chương trình, tổ chức triển khai đến việc theo dõi, cập nhật thông tin về các đối tác nhận tái bảo hiểm. Những yêu cầu này không chỉ giúp doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, bảo đảm khả năng thanh toán mà còn góp phần tăng cường tính minh bạch, an toàn và ổn định của thị trường bảo hiểm, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm.

Trân trọng./.