Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi vừa tham gia một hợp đồng bảo hiểm và được người quen giải thích rằng doanh nghiệp bảo hiểm có thể chuyển bớt rủi ro cho một doanh nghiệp khác thông qua hình thức tái bảo hiểm. Điều này khiến tôi thắc mắc tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm thực chất là gì, được thực hiện theo quy trình như thế nào và việc này có ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua bảo hiểm hay không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm là gì?
2. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
1. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm là gì?
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, để phân tán rủi ro và bảo đảm khả năng thanh toán khi xảy ra tổn thất lớn, các doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ tự mình gánh chịu toàn bộ trách nhiệm mà còn sử dụng cơ chế tái bảo hiểm. Cụ thể, khoản 4 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 giải thích như sau:
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
4. Nhượng tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chuyển giao một phần trách nhiệm đã nhận tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài trên cơ sở thanh toán phí nhượng tái bảo hiểm.”
Trước hết, tái bảo hiểm có thể hiểu một cách khái quát là việc doanh nghiệp bảo hiểm chuyển giao một phần rủi ro mà mình đã nhận bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm hoặc doanh nghiệp tái bảo hiểm khác. Nhờ đó, rủi ro được phân tán thay vì tập trung vào một chủ thể duy nhất.
Bên cạnh đó, có thể hiểu nhượng tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chuyển giao một phần trách nhiệm đã nhận tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài trên cơ sở thanh toán phí nhượng tái bảo hiểm.
Việc pháp luật quy định rõ khái niệm nhượng tái bảo hiểm không chỉ tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho các hoạt động này mà còn góp phần bảo đảm an toàn tài chính cho doanh nghiệp bảo hiểm, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm.
2. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Như phân tích ở trên, tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm là những cơ chế quan trọng giúp doanh nghiệp bảo hiểm phân tán rủi ro, nâng cao năng lực tài chính và bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Tuy nhiên, để bảo đảm hoạt động này được thực hiện minh bạch, an toàn và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên mua bảo hiểm, pháp luật đã đặt ra các nguyên tắc, giới hạn và điều kiện cụ thể đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khi thực hiện tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Chi tiết tại Điều 33 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) ghi nhận như sau:
“Điều 33. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm một phần nhưng không được tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm toàn bộ trách nhiệm đã nhận bảo hiểm, nhận tái bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tái bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm trong và ngoài nước, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải tính toán mức giữ lại cho từng loại hình bảo hiểm và theo từng loại rủi ro; mức giữ lại trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ. Mức giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đảm bảo quy định tại khoản 4 và 5 Điều này.
3. Khi tính toán mức giữ lại, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải xem xét đến các yếu tố sau:
a) Các quy định pháp luật về khả năng thanh toán;
b) Năng lực khai thác;
c) Khả năng tài chính;
d) Khả năng sẵn sàng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
đ) Việc thu xếp bảo vệ cho các rủi ro lớn và các rủi ro thảm họa;
e) Việc cân đối các kết quả hoạt động kinh doanh;
g) Các yếu tố cấu thành của danh mục hợp đồng bảo hiểm;
h) Diễn biến thị trường tái bảo hiểm trong nước và quốc tế.
4. Mức giữ lại tối đa trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ không quá 10% vốn chủ sở hữu.
5. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm, tỷ lệ tái bảo hiểm chỉ định tối đa là 90% mức trách nhiệm bảo hiểm. Tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm là một trong các trường hợp sau:
a) Người được bảo hiểm chỉ định một hoặc một số doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm cụ thể và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam tái bảo hiểm cho một hoặc một số doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm đã được chỉ định đó;
b) Người được bảo hiểm chỉ định một hoặc một số doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cụ thể và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thu xếp tái bảo hiểm qua một hoặc một số doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đã được chỉ định đó.
Trường hợp tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm, doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm phải đáp ứng quy định tại Điều 33 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP.
6. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác đã nhận bảo hiểm. Khi nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đánh giá rủi ro để bảo đảm phù hợp với khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam và không được nhận tái bảo hiểm đối với chính những rủi ro đã nhượng tái bảo hiểm.
7. Đối với các loại hình tái bảo hiểm hạn chế (finite reinsurance), trong vòng 07 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có văn bản do người đại diện theo pháp luật ký thông báo cho Bộ Tài chính. Thông báo bao gồm các nội dung chính của hợp đồng tái bảo hiểm, mục đích ký kết hợp đồng, cam kết tuân thủ các quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và chế độ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm một phần nhưng không được tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm toàn bộ trách nhiệm đã nhận bảo hiểm, nhận tái bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tái bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm trong và ngoài nước, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác. Việc giới hạn này nhằm ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp chỉ đóng vai trò trung gian rồi chuyển toàn bộ trách nhiệm cho đơn vị khác, đồng thời bảo đảm doanh nghiệp luôn có trách nhiệm đối với các rủi ro mà mình đã nhận bảo hiểm, góp phần nâng cao tính an toàn và minh bạch của thị trường bảo hiểm.
Để việc phân tán rủi ro được thực hiện phù hợp với năng lực tài chính của từng doanh nghiệp, pháp luật tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp phải xác định mức giữ lại đối với từng loại hình bảo hiểm và từng loại rủi ro. Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải tính toán mức giữ lại cho từng loại hình bảo hiểm và theo từng loại rủi ro; mức giữ lại trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ. Mức giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đảm bảo tuân theo khoản 4 và 5 Điều 33 Thông tư số 67/2023/TT-BTC. Việc xác định mức giữ lại giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát khả năng chịu rủi ro của mình, tránh nhận bảo hiểm vượt quá năng lực tài chính và bảo đảm duy trì khả năng thanh toán trong quá trình hoạt động.
Bên cạnh đó, khi tính toán mức giữ lại, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải xem xét đến các yếu tố sau:
- Các quy định pháp luật về khả năng thanh toán;
- Năng lực khai thác;
- Khả năng tài chính;
- Khả năng sẵn sàng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
- Việc thu xếp bảo vệ cho các rủi ro lớn và các rủi ro thảm họa;
- Việc cân đối các kết quả hoạt động kinh doanh;
- Các yếu tố cấu thành của danh mục hợp đồng bảo hiểm;
- Diễn biến thị trường tái bảo hiểm trong nước và quốc tế.
Việc xem xét đồng thời các yếu tố này giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định phù hợp với năng lực tài chính và điều kiện thị trường thay vì chỉ dựa trên một tiêu chí riêng lẻ. Quy định này góp phần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, giúp hoạt động tái bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện, từ đó hạn chế nguy cơ mất cân đối tài chính và bảo đảm an toàn cho hệ thống bảo hiểm.
Bên cạnh việc yêu cầu xác định mức giữ lại, pháp luật còn giới hạn mức giữ lại tối đa mà doanh nghiệp được phép duy trì. Theo đó, mức giữ lại tối đa trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ không quá 10% vốn chủ sở hữu, từ đó giúp giảm nguy cơ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi xảy ra tổn thất lớn, đồng thời tăng cường sự ổn định và an toàn của thị trường bảo hiểm.
Ngoài các trường hợp thông thường, pháp luật còn điều chỉnh riêng đối với hoạt động tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm. Cụ thể, nếu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm, tỷ lệ tái bảo hiểm chỉ định tối đa là 90% mức trách nhiệm bảo hiểm. Tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm là một trong các trường hợp sau:
- Người được bảo hiểm chỉ định một hoặc một số doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm cụ thể và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam tái bảo hiểm cho một hoặc một số doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm đã được chỉ định đó;
- Người được bảo hiểm chỉ định một hoặc một số doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cụ thể và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thu xếp tái bảo hiểm qua một hoặc một số doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đã được chỉ định đó.
Trường hợp tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm, doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện tại Điều 33 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP.
Những yêu cầu này vừa bảo đảm quyền lựa chọn của người được bảo hiểm trong một số trường hợp đặc biệt, vừa kiểm soát tỷ lệ chuyển giao rủi ro và bảo đảm doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm vẫn đáp ứng đầy đủ các điều kiện về năng lực tài chính theo quy định của pháp luật.
Không chỉ vậy, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác đã nhận bảo hiểm. Khi nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đánh giá rủi ro để bảo đảm phù hợp với khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam và không được nhận tái bảo hiểm đối với chính những rủi ro đã nhượng tái bảo hiểm. Việc đánh giá này giúp tránh tình trạng chuyển giao rủi ro theo vòng khép kín hoặc làm gia tăng rủi ro tài chính cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm hoạt động nhận tái bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ về năng lực tài chính.
Đối với các loại hình tái bảo hiểm hạn chế (finite reinsurance), trong vòng 07 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có văn bản do người đại diện theo pháp luật ký thông báo cho Bộ Tài chính. Thông báo bao gồm các nội dung chính của hợp đồng tái bảo hiểm, mục đích ký kết hợp đồng, cam kết tuân thủ các quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và chế độ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam. Nghĩa vụ thông báo giúp cơ quan quản lý nhà nước kịp thời giám sát các giao dịch tái bảo hiểm có tính chất đặc thù, qua đó tăng cường tính minh bạch của thị trường và hạn chế việc lợi dụng hợp đồng tái bảo hiểm để điều chỉnh không phù hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Có thể thấy, Điều 33 Thông tư số 67/2023/TT-BTC đã xây dựng một cơ chế tương đối toàn diện về hoạt động tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm, từ phạm vi được phép chuyển giao rủi ro, nguyên tắc xác định mức giữ lại, giới hạn an toàn tài chính đến các trường hợp đặc biệt và nghĩa vụ báo cáo đối với cơ quan quản lý. Những ghi nhận này không chỉ giúp doanh nghiệp bảo hiểm quản trị rủi ro hiệu quả, nâng cao khả năng thanh toán mà còn góp phần bảo đảm sự ổn định, minh bạch và phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Trân trọng./.