Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào?

Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tham gia một hợp đồng bảo hiểm thì được thông báo doanh nghiệp bảo hiểm dự kiến chuyển giao hợp đồng của tôi sang một doanh nghiệp khác. Mặc dù hiểu rằng việc này có thể được pháp luật cho phép, nhưng tôi không rõ doanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng những điều kiện nào mới được thực hiện việc chuyển giao, cũng như làm thế nào để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm trong quá trình này? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Trường hợp nào phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm?

2. Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Trường hợp nào phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm?

Trong một số trường hợp nhất định, doanh nghiệp bảo hiểm không thể tiếp tục thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết. Để bảo đảm quyền lợi của khách hàng cũng như sự liên tục của hoạt động bảo hiểm, pháp luật quy định các trường hợp phải chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp khác đủ điều kiện tiếp nhận. Cụ thể, Điều 91 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 ghi nhận như sau:

Điều 91. Các trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm

Việc chuyển giao toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm, tài sản và trách nhiệm tương ứng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thực hiện trong trường hợp sau đây:

1. Theo yêu cầu của Bộ Tài chính quy định tại điểm c và điểm d khoản 8 Điều 113 của Luật này;

2. Thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động;

3. Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động;

4. Các trường hợp quy định tại các điểm a, d và e khoản 1 Điều 75 của Luật này.”

Dẫn chiếu đến điểm c, d khoản 8 Điều 113; điểm a, d và e khoản 1 Điều 75 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 ghi nhận như sau:

Điều 113. Biện pháp kiểm soát

...

8. Trong thời hạn quy định tại khoản 4 Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 5 Điều này mà không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn thì tùy theo tính chất, mức độ, rủi ro, Bộ Tài chính thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:

...

c) Yêu cầu chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm;

d) Chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác góp vốn, mua cổ phần, nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bị kiểm soát.”

Điều 75. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp giấy phép;

...

d) Hoạt động không đúng với nội dung tại giấy phép thành lập và hoạt động;

...

e) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép.”

Theo đó, việc chuyển giao toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm, tài sản và trách nhiệm tương ứng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thực hiện trong trường hợp sau đây:

Thứ nhất, việc chuyển giao được thực hiện theo yêu cầu của Bộ Tài chính. Cụ thể, nếu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm hoặc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục hoặc không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn trong thời hạn luật định thì tùy theo tính chất và mức độ rủi ro, Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm hoặc chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác góp vốn, mua cổ phần hoặc nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp này cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước chủ động can thiệp khi doanh nghiệp bảo hiểm gặp khó khăn về tài chính, góp phần duy trì khả năng thực hiện các cam kết bảo hiểm và bảo đảm sự ổn định của thị trường.

Thứ hai, thực hiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm khi thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động. Việc thu hẹp hoạt động có thể xuất phát từ chiến lược tái cơ cấu, điều chỉnh mô hình kinh doanh hoặc tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực hoạt động hiệu quả hơn. Trong trường hợp này, việc chuyển giao danh mục hợp đồng giúp các hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực tiếp tục được thực hiện bởi doanh nghiệp có đủ điều kiện tiếp nhận.

Thứ ba, việc chuyển giao áp dụng khi doanh nghiệp bị chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động. Đây đều là những sự kiện làm thay đổi tư cách pháp lý hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp tục thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết. Vì vậy, việc chuyển giao danh mục hợp đồng là giải pháp cần thiết để bảo đảm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng không bị gián đoạn.

Thứ tư, trường hợp mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động do:

- Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp giấy phép;

- Hoạt động không đúng với nội dung tại giấy phép thành lập và hoạt động;

- Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép.

Trong những trường hợp này, doanh nghiệp không còn đủ điều kiện để tiếp tục hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật, do đó việc chuyển giao danh mục hợp đồng là cần thiết nhằm bảo đảm các hợp đồng bảo hiểm vẫn được tiếp tục thực hiện bởi doanh nghiệp khác có đủ năng lực. Từ đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép hoặc không còn đủ điều kiện hoạt động, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực đến thị trường bảo hiểm và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.

Vậy là, điều khoản trên đã xác định rõ những trường hợp phải thực hiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm, bao gồm cả trường hợp phát sinh từ yêu cầu quản lý của Nhà nước và những trường hợp xuất phát từ nhu cầu tổ chức, tái cơ cấu hoặc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Cơ chế này không chỉ bảo đảm tính liên tục trong việc thực hiện các hợp đồng bảo hiểm mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng, qua đó duy trì sự ổn định, an toàn và phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm.

2. Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm được quy định như thế nào?

Chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm không chỉ là việc chuyển giao các hợp đồng đang có hiệu lực mà còn kéo theo việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với bên mua bảo hiểm. Vì vậy, để bảo đảm doanh nghiệp nhận chuyển giao có đủ năng lực tiếp tục thực hiện các cam kết bảo hiểm, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, Điều 92 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã đặt ra những điều kiện và nguyên tắc cụ thể đối với việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm như sau:

Điều 92. Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Đang kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm nhận chuyển giao;

b) Bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán theo quy định của Luật này;

c) Bảo đảm điều kiện triển khai nghiệp vụ bảo hiểm sau khi nhận chuyển giao.

2. Việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các tài sản tương ứng với dự phòng nghiệp vụ của toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.

3. Các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này, nếu giá trị tài sản thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nhận chuyển giao phải thỏa thuận với bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm về việc giảm số tiền bảo hiểm hoặc quyền lợi bảo hiểm và các nghĩa vụ khác theo hợp đồng bảo hiểm.

4. Trường hợp không đồng ý với việc chuyển giao, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.”

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Thứ nhất, đang kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm nhận chuyển giao;

- Thứ hai, bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán theo Luật Kinh danh bảo hiểm;

- Thứ ba, bảo đảm điều kiện triển khai nghiệp vụ bảo hiểm sau khi nhận chuyển giao.

Có thể thấy, việc nhận chuyển giao không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu của doanh nghiệp mà còn phải dựa trên năng lực tài chính và khả năng thực tế để tiếp tục thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao. Những điều kiện này nhằm bảo đảm chỉ những doanh nghiệp có đủ năng lực chuyên môn và khả năng tài chính mới được tiếp nhận danh mục hợp đồng bảo hiểm. Qua đó, hạn chế nguy cơ phát sinh rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên mua bảo hiểm.

Cần lưu ý rằng, việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các tài sản tương ứng với dự phòng nghiệp vụ của toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao. Điều này có nghĩa, doanh nghiệp chuyển giao không chỉ chuyển giao các hợp đồng bảo hiểm mà còn phải chuyển giao nguồn tài sản dùng để bảo đảm khả năng thực hiện các nghĩa vụ bảo hiểm đối với những hợp đồng đó.

Về các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao sẽ không thay đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm theo khoản 1 Điều 91 Luật Kinh doanh bảo hiểm, nếu giá trị tài sản thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nhận chuyển giao phải thỏa thuận với bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm về việc giảm số tiền bảo hiểm hoặc quyền lợi bảo hiểm và các nghĩa vụ khác theo hợp đồng bảo hiểm.

Đề đảm bảo quyền tự quyết của bên mua bảo hiểm, pháp luật cho phép  bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp không đồng ý với việc chuyển giao. Việc trao quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng cho bên mua bảo hiểm góp phần bảo vệ quyền tự do thỏa thuận và quyền lợi hợp pháp của khách hàng, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp nhận chuyển giao duy trì chất lượng dịch vụ và tạo dựng niềm tin đối với người tham gia bảo hiểm.

Như vậy, điều luật này đã xây dựng các điều kiện và nguyên tắc chặt chẽ đối với việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm, từ yêu cầu về năng lực của doanh nghiệp nhận chuyển giao, việc chuyển giao tài sản bảo đảm, nguyên tắc duy trì quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đến quyền lựa chọn của bên mua bảo hiểm. Những quy định này không chỉ bảo đảm quá trình chuyển giao được thực hiện an toàn, minh bạch mà còn góp phần duy trì tính liên tục của các hợp đồng bảo hiểm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng cũng như bảo đảm sự ổn định của thị trường bảo hiểm.

Trân trọng./.