Giám định tổn thất bảo hiểm là gì? Giám định tổn thất được thực hiện như thế nào? Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản được quy định như thế nào?
Giám định tổn thất bảo hiểm là gì? Giám định tổn thất được thực hiện như thế nào? Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có tham gia bảo hiểm cho một số tài sản và khi tìm hiểu hợp đồng thì thấy có quy định về việc giám định tổn thất cũng như các trường hợp tổn thất không được bồi thường. Tuy nhiên, tôi chưa hiểu rõ giám định tổn thất cụ thể là gì, quy trình thực hiện ra sao và đặc biệt là các trường hợp tổn thất do hao mòn tự nhiên hay do bản chất vốn có của tài sản sẽ được xử lý như thế nào. Điều này khiến tôi khá lo lắng vì sợ ảnh hưởng đến quyền lợi khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Vậy giám định tổn thất bảo hiểm là gì? Giám định tổn thất được thực hiện như thế nào? Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản được quy định như thế nào? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.
MỤC LỤC
1. Giám định tổn thất bảo hiểm là gì?
2. Giám định tổn thất được thực hiện như thế nào?
3. Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Giám định tổn thất bảo hiểm là gì?
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, khi xảy ra rủi ro hoặc sự cố gây thiệt hại, việc xác định chính xác mức độ tổn thất và trách nhiệm bồi thường là vấn đề rất quan trọng. Để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và đúng pháp luật, pháp luật Việt Nam đã quy định về hoạt động giám định tổn thất bảo hiểm. Đây là cơ sở giúp doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm giải quyết quyền lợi một cách khách quan. Theo khoản 11 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, khái niệm giám định tổn thất bảo hiểm được xác định rõ ràng như sau:
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
11. Giám định tổn thất bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn thất và tính toán phân bổ trách nhiệm bồi thường tổn thất làm cơ sở giải quyết bồi thường bảo hiểm.”
Theo đó, có thể hiểu giám định tổn thất bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn thất và tính toán phân bổ trách nhiệm bồi thường tổn thất làm cơ sở giải quyết bồi thường bảo hiểm. Toàn bộ kết quả giám định sẽ làm cơ sở để giải quyết bồi thường bảo hiểm. Nhờ có hoạt động này, doanh nghiệp bảo hiểm có căn cứ pháp lý và thực tế để chi trả nhanh chóng, chính xác, minh bạch.
Như vậy, giám định tổn thất bảo hiểm là hoạt động rất cần thiết trong lĩnh vực bảo hiểm. Nội dung này giúp xác định đúng thiệt hại, đúng nguyên nhân và đúng trách nhiệm bồi thường của các bên. Nhờ đó, việc chi trả bảo hiểm được thực hiện công bằng và đúng quy định pháp luật. Đồng thời, hoạt động này còn góp phần hạn chế tranh chấp phát sinh trong thực tế. Có thể nói, giám định tổn thất bảo hiểm là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm.
2. Giám định tổn thất được thực hiện như thế nào?
Trong hoạt động bảo hiểm, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì việc xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại là vấn đề rất quan trọng để làm căn cứ bồi thường. Nếu không có quá trình giám định rõ ràng, minh bạch thì dễ phát sinh tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Vì vậy, pháp luật đã xác định cụ thể về cách thức thực hiện giám định tổn thất. Nội dung này được ghi nhận tại Điều 53 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 53. Giám định tổn thất
1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài ủy quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chi phí giám định tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả.
2. Trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể thỏa thuận thuê giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp các bên không thoả thuận được việc thuê giám định viên độc lập thì một trong các bên có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền hoặc Trọng tài trưng cầu giám định viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên.”
Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài ủy quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chi phí giám định tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả. Điều này giúp bảo đảm việc xác định thiệt hại được tiến hành kịp thời, khách quan và đúng chuyên môn.
Trong trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể thỏa thuận thuê giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Đây là cơ chế bảo đảm tính trung lập, khách quan khi có mâu thuẫn phát sinh. Nếu các bên không thoả thuận được việc thuê giám định viên độc lập thì một trong các bên có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền hoặc Trọng tài trưng cầu giám định viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên.
Như vậy, giám định tổn thất là bước quan trọng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Pháp luật đã nêu rõ chủ thể thực hiện, chi phí giám định cũng như cách giải quyết khi có tranh chấp. Những nội dung này giúp bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong quá trình bồi thường bảo hiểm. Đồng thời, quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm cũng được bảo vệ tốt hơn. Ta có thể thấy rằng, giám định tổn thất là cơ sở quan trọng để việc giải quyết bảo hiểm diễn ra công bằng và hiệu quả.
3. Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản được quy định như thế nào?
Trong hoạt động bảo hiểm tài sản, không phải mọi thiệt hại xảy ra đối với tài sản được bảo hiểm đều thuộc trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm. Có những trường hợp tổn thất phát sinh do sự xuống cấp tự nhiên hoặc đặc tính vốn có của tài sản, không phải do rủi ro bất ngờ từ bên ngoài. Vì vậy, pháp luật đã nêu rõ về trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp này nhằm bảo đảm sự công bằng và đúng bản chất của bảo hiểm. Nội dung đó được thể hiện tại Điều 50 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 50. Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản
Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Ta có thể hiểu hao mòn tự nhiên là sự giảm giá trị, hư hỏng hoặc xuống cấp diễn ra theo thời gian trong quá trình sử dụng bình thường, chẳng hạn máy móc cũ dần, sơn phai màu, linh kiện mòn sau thời gian dài sử dụng. Đây là hiện tượng tất yếu nên không được xem là rủi ro bảo hiểm. Còn bản chất vốn có của tài sản, tức là những đặc tính tự nhiên bên trong tài sản có thể tự gây hư hỏng, ví dụ thực phẩm dễ ôi thiu, kim loại dễ gỉ sét, hàng hóa dễ bay hơi hoặc mục nát. Những thiệt hại này xuất phát từ chính đặc điểm của tài sản chứ không phải do sự kiện bất ngờ từ bên ngoài.
Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng rằng doanh nghiệp bảo hiểm vẫn nhận bảo hiểm cho các trường hợp hao mòn tự nhiên hoặc bản chất vốn có của tài sản thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải thực hiện trách nhiệm theo cam kết.
Vậy là, tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản về nguyên tắc không thuộc trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm. Đây là quy định hợp lý vì những thiệt hại này không phải rủi ro bất ngờ mà là hệ quả tự nhiên của tài sản. Tuy nhiên, pháp luật vẫn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo hiểm. Nhờ đó, quyền tự do cam kết của các bên được bảo đảm. Quy định này góp phần làm rõ phạm vi bảo hiểm và hạn chế tranh chấp trong thực tế.
Trân trọng./.