Nguồn án lệ về việc tranh chấp đòi tiền đặt cọc và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Quyết định giám đốc thẩm số 01/2025/KDTM-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐÒI TIỀN ĐẶT CỌC VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 01/2025/KDTM-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 01/2025/KDTM-GĐT ngày 21/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Nội dung hủy án:
“[4] Xét, việc Công ty V ký với Công ty A Thư ý định ngày 28/9/2018 có quy định tại Điều 9:“Trong vòng 90 ngày kể từ ngày ký kết Thư ý định, Bên B cần phải ký kết Hợp đồng thuê mặt bằng VV và Hợp đồng quản lý mặt bằng V với Bên A và bên chủ sở hữu tài sản” là thỏa thuận riêng không có sự tham gia của Công ty B; hơn nữa, theo nội dung phần mở đầu và Điều 3 Hợp đồng liên kết kinh doanh khu thương mại dịch vụ dùng chung (podium) JW Marriott Đà Nẵng, Việt Nam số /HDLK/HD-2018 ký giữa Công ty B và Công ty V ngày 19/6/2018 thì “Công ty B… ủy quyền cho Công ty V toàn quyền kinh doanh, quản lý Khu thương mại dịch vụ dùng chung…20 năm” nên việc Công ty A cho rằng Công ty B có lỗi khi không ký hợp đồng cho Công ty A thuê gian hàng theo như thỏa thuận của Công ty V với Công ty A ghi tại Thư ý định ngày 28/9/2018 là không có cơ sở. Công ty V trình bày do Chủ sở hữu chưa hoàn tất thủ tục pháp lý về giấy phép nên không thể khai trương Trung tâm đúng thời gian; như vậy, Công ty V biết Chủ sở hữu chưa hoàn tất thủ tục pháp lý về giấy phép khai trương Trung tâm thương mại, còn Công ty A hoặc biết rõ hoặc chưa tìm hiểu kỹ, nhưng hai bên vẫn ký Hợp đồng liên kết kinh doanh khu thương mại dịch vụ dùng chung ngày 19/6/2018, Công ty V tự quyết định nhận tiền, còn Công ty A thực hiện ngay việc thi công, lắp trang thiết bị vào gian hàng nên thiệt hại phải tự gánh chịu. Công ty B chỉ được số tiền thuê tháng đầu tiên 52.734.000 đồng mà Công ty A chuyển vào tài khoản của Công ty B và trong tình hình khó khăn, thiệt hại chung vì Dịch bệnh Covid 19, nhưng Công ty B vẫn thể hiện trách nhiệm khi liên hệ, phối hợp với các cá nhân, đơn vị thuê mặt bằng giải quyết các vướng mắc và đã lên kế hoạch miễn giảm tiền cho thuê khi tình hình dịch bệnh ổn định có thể khai trương Trung tâm thương mại. Công ty B trình bày chưa nhận được bất kỳ thông báo nào của Công ty A yêu cầu hoàn trả các khoản tiền và thông báo không tiếp tục thuê gian hàng, còn Công ty A thì không nêu được căn cứ chứng minh phản bác. Hơn nữa, hồ sơ vụ án thể hiện Công ty B đã gửi thông báo cho Công ty A biết Công ty B đã chấm dứt hợp tác với Công ty V nên đề nghị Công ty A làm việc trực tiếp, Công ty A thừa nhận đã nhận các thông báo này, nhưng cho rằng không còn nhu cầu thuê gian hàng để kinh doanh nên muốn chấm dứt. Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên thì không có cơ sở để xác định Công ty B có lỗi đối với thiệt hại của Công ty A, do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều xác định Công ty B có lỗi đối với thiệt hại của Công ty A nên buộc bồi thường là chưa đủ căn cứ.