Nguồn án lệ về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (Quyết định giám đốc thẩm số 38/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 38/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 38/2023/DS-GĐT ngày 08/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
Nội dung hủy án:
“[6]. Quyết định số 4997/QĐ-UBND ngày 08/10/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu trên được ban hành trên cơ sở của Luật Đất đai năm 2013. Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Công văn số 129/SQHKT ngày 14/01/2015 của Sở Quy hoạch Kiến trúc Thành phố và Công văn số 20/TNMT-QLSDĐ ngày 12/6/2015 của Sở Kiến trúc Thành phố. Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì “đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện của cơ sở tôn giáo mà không phải do Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì được thực hiện các quyền chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất". Trên thực tế, trước khi ký hợp đồng cho Công ty AV thuê đất, Chùa AG đã cho bà Nguyễn Thị Thanh B thuê một phần đất tại số 122 đường P và được Ủy ban nhân dân Quận M chấp thuận tại Công văn số 1452.CV-UB ngày 17/11/1998 và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đồng ý tại Công văn số 458/UB-PC ngày 30/01/2004; và trước khi ký kết hợp đồng. Ban Quản trị Chùa AG và Công ty AV cũng đã gửi văn bản xin ý kiến của Tổng cục Quản lý Đất đai- Bộ Tài nguyên và Môi trường và được Tổng cục trả lời tại Văn bản số 332/TCQLĐĐ ngày 08/12/2008 và Văn bản số 370/TCQLĐĐ-CSPC ngày 22/12/2008 là: Chùa AG đủ điều kiện về mặt chủ thể thực hiện quyền của người cho thuê đất. Như vậy, Chùa A G là chủ thể có quyền thực hiện việc cho thuê đất.
[7]. Theo Công văn số 370/TCQLĐĐ-CSPC ngày 22/12/2008 của Tổng Cục Quản lý đất đai xác nhận: “Theo trình bày, bên cho thuê đất (Chùa AG) đã có trích sao số điển thổ về bất động sản số 410 và 411 Sài Gòn - Tự do lập trước năm 1975, UBND TP Hồ Chí Minh có Quyết định số 87/QĐ-UB ngày 13/01/1993 về việc giao và cho phép cộng đồng tin đồ A G sử dụng ngôi đền tại 66 TTT, quận M, do đó, bên cho thuê đất thuộc trường hợp có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai". Đến ngày 11/12/2010, Chùa AG được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất. Vì vậy, hợp đồng thuê đất giữa Chùa AG không vô hiệu do vi phạm điều kiện khi ký kết chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như nguyên đơn trình bày.
[8]. Hợp đồng thuê nhà đất tại số 122 đường P ngày 05 và 08/01/2009 được công chứng tại Phòng Công chứng số 4 Thành phố Hồ Chí Minh đã đảm bảo về hình thức của giao dịch dân sự, không thuộc trường hợp bị cấm hoặc hạn chế cho thuê. Do đó, hình thức của hợp đồng thuê nhà đất trên được các bên thực hiện đúng trình tự, thủ tục luật định.
[9]. Như vậy, với các căn cứ trên cho thấy Chùa AG có quyền cho Công ty AV thuê đất. Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ này nhưng lại cho rằng hợp đồng cho thuê nhà đất tại địa chỉ số 122 đường P giữa Chùa AG và Công ty AV vô hiệu vì lý do đất sử dụng vào mục đích tôn giáo nên không được cho thuê là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[10]. Do đó, kháng nghị đề nghị hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự trong vụ án. Ngoài ra, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cũng cần phải xem xét số tiền Công ty AV đã giao cho Chùa AG và công sức của Công ty AV trong việc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận cho Chùa AG cho phù hợp.”