Nguồn án lệ về việc tranh chấp di sản thừa kế và tranh chấp quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 79/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ VÀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 79/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 79/2023/DS-GĐT ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre và hủy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre về việc tranh chấp di sản thừa kế và tranh chấp quyền sử dụng đất.
Nội dung hủy án:
“[1.1] Theo hồ sơ xét cấp GCNQSDĐ đã được Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm thu thập và qua chính sự thừa nhận của các bên đương sự thì các thửa đất này có nguồn gốc là của vợ chồng cố Võ Văn LG, Đỗ Thị TX (là cha mẹ đẻ của cụ B) sinh thời tạo lập được, sau đó để lại cho cụ B quản lý, sử dụng. Cá nhân cụ B là người đăng ký kê khai và được cấp GCNQSDĐ (lần đầu). Việc cấp GCNQSDĐ cho “hộ” là cấp theo mẫu chung, không có chứng cứ chứng minh cụ B nhập vào tài sản chung của hộ.
[1.2] Căn cứ Giấy xác nhận nguồn gốc đất được UBND xã CH xác nhận ngày 18/5/2000 thì cha mẹ cụ B để lại cho cụ B năm 1978. Chồng của cụ B là cụ Lê Ngọc Bình, theo xác nhận của UBND xã CH thì đã chết mất xác từ năm 1974, trước thời điểm cụ B kê khai cha mẹ cho đất. Do đó, quyền sử dụng các thửa đất nêu trên là tài sản riêng của cụ B. Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm căn cứ vào GCNQSDĐ ghi cấp cho “hộ”, Công văn số 2632/UBND-NC ngày 28/10/2019 của UBND huyện BĐ và Sổ hộ khẩu của hộ gia đình cụ B để cho rằng đây là tài sản chung của hộ, bao gồm cụ B, ông Ths, vợ và các con của ông Ths (là các nguyên đơn trong vụ án này) là không đúng. Các nguyên đơn còn cho rằng ông Ths khi còn sống được cố LG cho riêng một phần đất, sau đó nhập chung trong số các thửa đất cấp cho hộ cụ B, nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
[2] Theo trang bổ sung GCNQSDĐ của cụ B, ngày 13/4/2002, cụ B chuyển nhượng cho bà HF các thửa 403, 1316, 1317, 1605, 1607 (một phần) và 1610 (một phần). Ngày 15/4/2002, cụ B chuyển nhượng cho ông Ths các thửa 1606, 406, phần còn lại của các thửa 1607, 1610. Đây là lần sang nhượng được các bên thừa nhận, cụ B đứng tên các thửa còn lại là 404, 407 và 408. [2.1] Tuy nhiên, qua tài liệu xác minh thực tế có trong hồ sơ thì thửa 404 nay là thửa 164-1, 165 và 165-1 do bà HF quản lý sử dụng; thửa 407 nay tách thành 03 thửa: thửa 213 do bà HF quản lý sử dụng; thửa 224 do cụ Võ Thị Kim CR (em ruột của cụ B) sử dụng và thửa 254 do bà Đỗ Thị Kim Ci quản lý sử dụng; bà Ci cũng đang sử dụng thửa 408 (nay là thửa 19). Các thửa 19, 254 được cụ CR sang nhượng cho bà Đỗ Thị Kim Ci gần 30 năm nay. [2.2] Trong khi đó, B bản họp gia đình ngày 26/9/2002 lại thể hiện: cụ B chia cho bà HF các thửa 404, 408; chia cho ông Ths thửa 407, là có sự sai lệch về số thửa, chồng lấn so với thực tế sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ có hay không việc ông Ths nhận 3000m2 đất do cụ B chia cho, nếu có thì thuộc thửa nào? vị trí nào?. Ngoài ra, phần thửa 164-1 có sự chồng lấn ranh với thửa 165-1 và thửa 164 (của chủ đất liền kề) nên cần phải xác định chính xác vị trí, diện tích các thửa đất có tranh chấp thì việc giải quyết vụ án mới đúng pháp luật.
[3] Ngoài ra, kèm theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, bà HF xuất trình “Tờ cam kết” ngày 25/10/2002 có chữ ký, điểm chỉ tên của cụ B và ông Ths, có xác nhận của UBND xã CH, nội dung là: "…tôi và con trai tôi đồng ý giao hết quyền của mẹ con tôi cho cháu Sử được viết và được ký tên thay cho tôi và Lê Quốc Ths … trong hồ sơ chuyển nhượng hai thửa đất 404 và 408 cho con gái tôi là Lê Thị Thanh HF đứng tên trong sổ đỏ, cháu Sử được quyền thay mặt tôi và con trai tôi đem hồ sơ đi xác nhận tại UBND xã CH".
[3.1] Tại Giấy xác nhận ngày 29/6/2022, ông Võ Thành SR (cán bộ địa chính thời điểm đó) thừa nhận nội dung tờ cam kết nêu trên và cho rằng cụ B, ông Ths ủy quyền cho ông SR ký tên hợp đồng chuyển nhượng nên ký thay cụ B và ông Ths. Vì vậy, Kết luận giám định số 166/2018/GĐTL ngày 13/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre và Kết luận giám định số 2782/C09B ngày 09/8/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định chữ ký trong B bản họp gia đình và Hợp đồng chuyển nhượng không phải của ông Ths là đúng diễn biến nội dung sự việc.
[3.2] Nội dung Tờ cam kết nêu trên thể hiện rõ bà HF được cụ B chuyển nhượng đất, có sự thống nhất của ông Ths. Bà HF quản lý, sử dụng đất, đứng tên GCNQSDĐ từ năm 2002 cho đến nay. Như vậy, Tờ cam kết này có thể làm thay đổi bản chất, nội dung vụ án. Do đó, quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm cần thu thập, đánh giá chứng cứ này để giải quyết vụ án đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[4] Về việc định giá tài sản tranh chấp: Tại Biên bản định giá tài sản ngày 22/11/2018 của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện: “Hội đồng định giá thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tại thửa đất số 404, 407 Tờ bản đồ số 1 xã CH, huyện BĐ có đơn giá 61.600 đồng/m2”. Biên bản định giá không thể hiện Hội đồng định giá xác định giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là Nhà nước hay giá thị trường. Quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ nội dung này để giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự.”