Nguồn án lệ về việc tranh chấp yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất; yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 04/2023/DS-GĐT)

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP YÊU CẦU THÁO DỠ CÔNG TRÌNH TRÊN ĐẤT; YÊU CẦU HỦY 02 GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/2023/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2023/DS-GĐT ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh G và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh G về việc tranh chấp yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất; yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất.

Nội dung hủy án:

“[2]. Tại Biên bản giải quyết tranh chấp đất đai ngày 29/7/2003 được lập tại Ủy ban nhân dân xã P do có khiếu nại của ông Trần Đại Đ thể hiện nội dung: ông Đ và ông Ng thống nhất mỗi người ½ thửa đất số 92, tờ bản đồ số 53 (thửa đất hiện đang tranh chấp), tương đương mỗi người được 11,85 mét ngang; còn ông Q được chia 10 mét đất theo mặt đường của thửa đất số 95. Trong biên bản cuộc họp này có đầy đủ chữ ký của những người tham gia là ông Đ, ông Ng, ông Q và ông D. Đến nay, ông Đ cho rằng không tham gia cuộc họp ngày 29/7/2003 là không có cơ sở vì những người trực tiếp giải quyết tranh chấp đất đai tại thời điểm đó như Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, cán bộ địa chính xã, cán bộ tư pháp xã ... đều xác định ông Đ có tham gia.

[3]. Sau khi thỏa thuận phân chia đất, do ông Đ và ông Ng mâu thuẫn với nhau nên ông Đ và ông Q đã tự đổi đất cho nhau, tức là diện tích đất ông Đ được chia ở thửa số 92 đổi với diện tích đất của ông Q được chia ở thửa số 95. Nội dung này đã được Ủy ban nhân dân xã P đưa vào sơ đồ vị trí lô đất đang tranh chấp (thửa 92), thể hiện thửa đất số 92 được chia cho ông Q 400 m2 và ông Ngành 474 m2. Do đó, có đủ cơ sở để xác định ông Q sử dụng thửa đất số 92 từ năm 2003, sau đó chuyển nhượng cho vợ chồng ông H, bà L2; còn ông Đ sử dụng thửa đất số 95 của ông Q.

[4]. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm đã không xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn phải trả lại giá trị các thửa đất cho nguyên đơn đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị đơn và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất đang tranh chấp nên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có cơ sở để chấp nhận.”