Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản (Quyết định giám đốc thẩm số 10/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 10/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 10/2023/DS-GĐT ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H và Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Nội dung hủy án:
“[3] Tại biên bản đối chất ngày 06/10/2021 thể hiện: Bà N cho rằng số tiền l.868.200.000 đồng trong 8 cuốn sổ do bà B, bà L ký nhận là tiền đã trả cho bà B. Lúc này, bà B chỉ yêu cầu thời hạn 01 tuần để bà B, bà N, bà L đối chiếu các khoản đã trả và báo kết quả với Tòa án. Điều này thể hiện, bà B không phản đối việc bà N xác định trả nợ bà B thông qua những lần thu tiền của bà B và bà L. Tuy nhiên, sau đó, bà B cho rằng số tiền Bà và chị Đoàn Thị Thanh T (con dâu bà B) ký nhận là tiền trả nợ, ngoài ra bà N còn trả thêm nhiều lần chỉ ghi vào sổ bà B tổng cộng 597.000.000 đồng đã được trừ vào số nợ 4.097.000.000 đồng trước khi khởi kiện (cuốn sổ hiện đã bị thất lạc). Đồng thời, bà L khai có chơi hụi với bà N, bà N bốc hụi trước và nộp tiền sau, mỗi lần thu hụi thì bà L chỉ ký vào sổ của bà N nhưng bà L không có chứng cứ chứng minh việc chơi hụi này. Tại 08 cuốn sổ này có 13 lần bà B ký nhận tiền, 02 lần ghi chuyển khoản cho bà Phạm Thị B tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, còn lại là bà L ký nhận nhưng Tòa án chỉ dựa vào lời khai của bà B, bà L đã xác định số tiền ký sổ của bà L là tiền hụi giữa bà L với bà N để không chấp nhận ý kiến của bà N là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ số tiền trong giấy vay nợ là chốt vay hay chốt tiền hụi chưa đóng đủ hay cả tiền vay và tiền hụi; khoản tiền mà bà N cho rằng đã trả nợ cho bà B; có hay không việc bà L là người thu tiền cho bà B để xác định số tiền trong 8 cuốn sổ là tiền gì để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[5] Ngoài ra, bà B khai chị Đoàn Thị Thanh T có thu tiền từ bà N nhưng Tòa án không đưa chị T vào tham gia tố tụng để xác định số tiền chị T nhận là tiền hụi hay tiền trả nợ là chưa đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
[6] Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B buộc bà Hoàng Thị Cẩm N phải trả cho bà Phạm Thị B số tiền 3.476.000.000 đồng là chưa đủ căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N.”