Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản (Quyết định giám đốc thẩm số 62/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 62/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 62/2023/DS-GĐT ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án dân sự phúc thẩm số của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Nội dung hủy án:
“[1] Quá trình tố tụng, bà M. và bà Th1. đều khai rằng bà M. không vay và không nhận số tiền 2.800.000.000 đồng của ông Th.; thực tế người vay tiền là bà Th1., còn bà M. chỉ cho bà Th1. mượn 04 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà M. để bảo đảm khoản vay này.
Tuy nhiên, bà M. thừa nhận viết giấy hỏi vay tiền (đề ngày 09/5/2021) có nội dung bà M. vay của ông Th. 2.800.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày sẽ hoàn trả lại, rồi đưa cho bà Th1. cùng với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng bà M. để giao cho ông Th.. Nội dung văn bản này thể hiện ý chí của bà M. thực hiện giao kết với ông Th. về việc vay tài sản, đồng thời cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Ý chí của bà M. trong giao kết này càng được thể hiện rõ thông qua việc bà M. giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th. giữ với mục đích “thế chấp” tài sản để đảm bảo thực hiện khoản vay nêu trên. Như vậy, kể từ thời điểm ông Th. nhận văn bản trên và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời giao số tiền vay cho bà Th1. thì giao dịch vay tài sản giữa ông Th. với bà M. đã hoàn thành.
Trường hợp bà M. cho rằng Bà chỉ thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Th1. đối với ông Th., thì khi bà Th1. vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, bà M. là bên bảo lãnh cũng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Th.. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà M. phải trả cho ông Th. 2.800.000.000 đồng nợ gốc và 192.892.000 đồng nợ lãi (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) là có căn cứ.
[2] Từ những phân tích trên, cho thấy việc Tòa án phúc thẩm cho rằng ông Th. không chứng minh được bà M. có trao đổi với ông về việc vay tiền, thực tế ông Th. không giao tiền cho bà M. và bà M. cũng không ủy quyền cho bà Th1. thực hiện việc nhận tiền thay mình nên bà M. không có nghĩa vụ trả nợ cho ông Th. là không phù hợp. Do đó, việc kháng nghị đề nghị hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 177/2022/DS-PT ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2022/DS-ST ngày 09/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An là có cơ sở.”