NGUỒN ÁN LỆ VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 86/2023/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 86/2023/DS-GĐT ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận NK, thành phố Cần Thơ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Nội dung hủy án:

[2] Quá trình giải quyết vụ án, ông T thừa nhận đã nhận từ bà P số tiền 4.000.000.000 đồng, nhưng ông cho rằng đã trả đủ số tiền này nên ông không còn nợ bà P. Khi nộp đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, ông T có cung cấp bản photo Biên nhận trả tiền cùng ngày 14/11/2019 có nội dung thể hiện ông T đã trả đủ số tiền 4.000.000.000 đồng cho bà P trong cùng ngày như ông T đã trình bày và chị Nguyễn Thị Th là người nhận. Trước khi xét xử giám đốc thẩm, Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc với ông T để đối chiếu bản chính biên nhận trả tiền ngày 14/11/2014. ông T đã cung cấp được bản chính của biên nhân nói trên. Qua xem xét đánh giá chứng cứ này thấy rằng: Mặc dù tiêu đề ghi là “Biên nhận trả tiền” “Tôi tên Phan Minh T … Tôi có trả đủ số tiền nêu trên (4 tỷ) … đưa chị Nguyễn Thị P và chị Nguyễn Thị Th nhận”. Tuy nhiên, phần cuối của biên nhận ông T là người trả tiền nhưng lại ký xác nhận “Đã nhận đủ (4 tỷ)” và bà P là người nhận tiền nhưng lại ký xác nhận “Đã giao tiền” là không phù hợp với bản chất của biên nhận trả tiền. Tòa án cấp sơ thẩm chưa cho các bên đối chất làm rõ vấn đề này. Vì vậy, cần phải thu thập chứng cứ và làm rõ tính pháp lý của tờ Biên nhận trả tiền ngày 14/11/2019 để xác định ông T đã trả tiền cho bà P hay chưa, đồng thời phải lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Th là người có tên trong biên nhận vay tiền ngày 14/11/2019 để làm rõ thêm về việc vay nợ giữa các bên nhằm giải quyết vụ án một cách chính xác và triệt để.

[3] Về lãi suất tiền vay của số tiền 4.000.000.000 đồng: bà P thừa nhận đã cho ông T vay tiền với lãi suất 3,6%/tháng từ tháng 3/2019. Như vậy, trong trường hợp có căn cứ xác định lời trình bày này của bà P là đúng thì cũng phải tính lại khoản tiền lãi theo quy định của pháp luật, đối với khoản tiền lãi vượt quy định của pháp luật thì được tính vào khoản thanh toán nợ gốc, nợ lãi hợp pháp của ông T.

[4] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc vay nợ giữa bà P và ông T, chưa chứng minh được việc giao nhận tiền, đồng thời cũng chưa xem xét đến việc thừa nhận của bà P về việc cho vay với lãi suất cao trái quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T, nên cần hủy bản án sơ thẩm. Đối với Quyết định phúc thẩm, do ông T đã được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm ban hành Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng do hủy bản án sơ thẩm nên phải hủy Quyết định phúc thẩm này để bảo đảm thủ tục tố tụng.”