Nguồn án lệ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 42/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 42/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 42/2023/DS-GĐT ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Nội dung hủy án:
“[6] Năm 1993, khi nhà nước mở rộng đường Nguyễn Hữu Cảnh, tổ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã lập biên bản ghi nhận hiện trạng, ông Ng. đã ký tên trong biên bản kê khai phần đất mình sử dụng là 318m2 đất và ký thay trong biên bản kê khai phần ông L. sử dụng là 106m2; ông Ng. cho rằng ông L. biết và không phản đối nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh; qua đó, cho thấy đây không phải là căn cứ để xác định ông L. và ông Ng. đã phân chia đất.
[7] Mặt khác, sau khi nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất từ vợ chồng ông L., bà Ph. thì ông Ng. chỉ ở trên nhà đất trong một thời gian ngắn, rồi chuyển tới ở tại căn nhà tại địa chỉ xxx Điện Biên Phủ, phường 25, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh mà theo Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm thì đây là tài sản có nguồn gốc do ông L. nhận chuyển nhượng của bà Thái Thị O.; điều này phù hợp với lời trình bày của ông L. khi cho rằng ông Ng. không có chỗ ở nên ông L. tạo điều kiện cho ông Ng. ở trên nhà đất của ông. Toàn bộ công trình trên diện tích đất tranh chấp là dãy nhà trọ do chính ông L. xây dựng, ông Ng. cho rằng có góp tiền với ông L. để xây nhà trọ nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh; trong khi đó, tiền thuê nhà trọ hàng tháng được những người thuê trả trực tiếp cho vợ chồng ông L..
[8] Tại thư tay ngày 03/8/1998, do ông L. viết gửi ông Ng., có nội dung: “Ngày 28-7-Ng. viết giấy sang yêu cầu L. phải phân chia tài sản của cả hai bên L. sẽ đồng ý…Ng. yêu cầu L. chia là Ng. phải có giấy như Ng. đã nói, tránh sau này L. lại cãi và đòi chia tài sản lần nữa…”.
Với nội dung thư tay trên, ông L. và ông Ng. có nói đến việc chia tài sản, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chưa làm rõ nội dung theo thư tay này thì việc ông L. và ông Ng. yêu cầu chia tài sản là tài sản nào, để đánh giá khi xem xét yêu cầu của ông Ng.
[9] Tại Công văn số 1035/CV-UB-QLĐT ngày 23/8/1999 của Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết tranh chấp đất của ông Nguyễn Hữu Ng., trong đó xác nhận nguồn gốc đất do ông L. chuyển nhượng cho ông L. và ông Ng. bằng giấy tay; tuy nhiên, tài liệu này không phản ánh đúng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như nêu trên. Tại Công văn số 576/TNMT ngày 07/5/2014 của Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Bình Thạnh chỉ cung cấp thông tin trên cở sở các tài lệu trong hồ sơ lưu trữ, mà không xác định khu đất là mua riêng hay chung giữa ông L. với ông Ng. nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm lại viện dẫn hai công văn trên để kết luận: “Như vậy, có căn cứ xác định: Nguồn gốc đất là của ông Võ Văn L. sử dụng và có đăng ký theo chỉ thị 299/TTg. Tháng 12/1989 của ông L. sang nhượng lại cho ông Nguyễn Hữu L. và ông Nguyễn Hữu Ng. bằng giấy tay, diện tích sang nhượng là 424 m2 và bà Phan Thị Th. là người đứng tên giùm” là không chính xác.
[10] Qua đó cho thấy, khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, mà chỉ căn cứ vào hai công văn trên và lời khai của một số người làm chứng là các chứng cứ gián tiếp, chưa đủ căn cứ vững chắc để xác định đất tranh chấp có nguồn gốc do ông L. và ông Ng. nhận chuyển nhượng của ông L., từ đó chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.”