THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 84/TB-VKSTC NGÀY 02/4/2025 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm nhận định, đánh giả không đúng với thực tế về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của ông G nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G là không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước quản lý về đất đai, cụ thể như sau:

[1] Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Thửa đất số 56 UBND huyện C không trực tiếp sử dụng mà do gia đình ông G sử dụng ổn định, liên tục; không có tranh chấp từ năm 1993 (Trước khi UBND huyện C quản lý); quá trình sử dụng đất không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lập biên bản hay xử lý vi phạm về hành vi lấn chiếm đất; gia đình ông G sử dụng đất trước thời điểm quy hoạch sửdụng đất được phê duyệt nên căn cứ khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì gia đình ông G đủ điều kiện được cấp Giấy CNQSD đất đối với Thửa đất số 56 nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật là không đúng. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn cho răng gia đình ông G sử dụng Thửa đất số 80 từ năm 2000 là sau thời điểm Nhà nước xác định là đất rừng phòng hộ do UBND huyện C quản lý (Năm 1998) nên không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng lại không tuyên đối với yêu cầu này của ông G trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm là thiếu sót.

Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng gia đình ông G sử dụng Thửa đất số 56 từ năm 1993, sử dụng Thửa đất số 80 từ năm 2000, quá trình sử dụng đất ổn định, liên tục, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch tại thời điểm sử dụng đất nên đủ điều kiện để được cấp Giấy CNQSD đất; từ đó quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G, buộc UBND huyện C cấp Giấy CNQSD đất cho gia đình ông G đối với diện tích 3.113,5m² tại Thửa đất số 56 và diện tích 2.594,1m² tại Thửa số 80, cùng thuộc Tờ bản đồ số 11, huyện C, tỉnh T là chưa đúng quy định của pháp luật. Tại bản án phúc thẩm còn tuyên buộc UBND huyện C cấp GCNQSD đất đối với diện tích 3.113,5m² tại Thửa đất số 56 và diện tích 2.594,1m² tại Thửa đất số 80 cho hộ gia đình ông G là vượt quá thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[2] Tại bản đồ hiện trạng rừng huyện C năm 2005 kèm theo Quyết định số 4075/QĐ-UBND ngày 14/11/2006 của UBND tỉnh T thì Thửa đất số 80 và một phần diện tích đất Thửa đất số 56 (2.345m7/3.113.5m²) thuộc diện tích rừng phòng hộ; phần diện tích còn lại của Thửa đất số 56 là "Đất khác". Căn cứ Văn bản số 4292/UBND-TTr ngày 28/12/2022 của UBND huyện C, Bản đồ địa chỉnh năm 1995 và Số mục kê năm 1995 của UBND huyện C thì diện tích 5.707,6m² đất tại các Thửa đất số 56, Thừa số 80 thuộc rừng cấm quốc gia huyện C, tỉnh T.

Căn cứ Bản đồ kiểm kê rủng năm 2016 kèm theo Quyết định số 3059/QĐ-UBND ngày 02/11/2016 của UBND tỉnh T, Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015), Quyết định số 587/QĐ-UBND ngày 20/3/2014 thì vị trí các Thửa đất số 56, 80 không còn thuộc diện tích rừng phòng hộ mà được quy hoạch là đất trồng cây lâu năm. Tại bản đồ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 Khu Trung tâm Côn Sơn, huyện C được UBND tỉnh T phê duyệt tại Quyết định số 1010/QĐ-UBND ngày 28/4/2016 thì vị trí Thửa đất số 56 được quy hoạch là đất công trình công cộng - dịch vụ, đất giao thông, đất ở hiện trạng cải tạo; Thửa đất số 80 được quy hoạch là đất công trình công cộng - dịch vụ, đất giao thông. Tại bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và cập nhật kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện C được UBND tỉnh T phê duyệt tại Quyết định số 549/QĐ-UBND ngày 12/3/2019 thi vị trí các Thửa đất số 56, 80 được quy hoạch là đất thương mại dịch vụ, đất giao thông và đất ở.

Như vậy đổi với thửa đất 56 và Thừa số 80 mà gia đình ông G khai hoang sử dụng có nguồn gốc là rừng cấm huyện C thuộc đặc khu C vào năm 1985 và Nhà nước đã quản lý liên tục. Việc gia đình ông G sử dụng đất cấm huyện C và do UBND huyện C quản lý là rừng cấm Quốc gia (sau này là rừng phòng hội mà không được sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hành vi lần, chiếm đất đai. Gia đình ông G không có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại thời điểm ông G khởi kiện yêu cầu UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các Thửa đất số 56, 80 không còn là đất rừng phòng hộ và được quy hoạch một phần nằm trong lộ giới giao thông, phần còn lại là đất thương mại dịch vụ và đất ở.

Như vậy đối với thửa đất 56 và Thừa số 80 mà gia đình ông G khai hoang sử dụng có nguồn gốc là rừng cấm huyện C thuộc đặc khu C vào năm 1985 và Nhà nước đã quản lý liên tục. Việc gia đình ông G sử dụng đất cấm huyện C và do UBND huyện C quản lý là rừng cấm Quốc gia (sau này là rừng phòng hộ) mà không được sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hành vi lần, chiếm đất đai. Gia đình ông G không có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại thời điểm ông G khởi kiện yêu cầu UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các Thửa đất số 56, 80 không còn là đất rừng phòng hộ và được quy hoạch một phần nằm trong lộ giới giao thông, phần còn lại là đất thương mại dịch vụ và đất ở.

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định về việc xem xét cấp Giấy CNQSD đất dối với trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng.

Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án các tài liệu, chứng cứ thể hiện Thửa đất số 56 và Thửa số 80 thuộc quyền quản lý của nhà nước; không có văn bản hay quyết định nào của UBND tỉnh T hoặc UBND huyện C giao đất không thu tiền sử dụng đất cho bất kỳ Nông trường, Lâm trường quốc doanh hay tổ chức, cá nhân nào sửdụng nên trường hợp của ông G không được áp dụng quy định nêu trên.

Viện kiểm sát nhân dân cấp sơ thẩm, phúc thẩm không phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị hoặc báo cáo đề nghị VKSND cấp có thẩm quyền kháng nghị theo quy định là thiếu sót.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, VKSND tối cao thông bảo đến VKSND các cấp cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tương tự.