Thông báo rút kinh nghiệm số 19/TB-VC3-V3 ngày 15/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh về các vụ án hành chính cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy, sửa trong 06 tháng cuối năm 2019
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 19/TB-VC3-V3 NGÀY 15/4/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CẤP SƠ THẨM BỊ CẤP PHÚC THẨM HỦY, SỬA TRONG 06 THÁNG CUỐI NĂM 2019
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
1. Vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
1.1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện không đúng quy định, làm mất quyền khởi kiện của đương sự
Điển hình là vụ anh Huỳnh Hữu Nghĩa khởi kiện yêu cầu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do UBND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Huỳnh Hữu Hiệp.
Theo hồ sơ vụ án, vợ chồng ông Huỳnh Hữu Hiệp và bà Đặng Thị Thu Nga có tài sản chung là phần đất ở có diện tích 78,7m thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 09 và căn nhà trên đất có diện tích 4,4m X 12m tại Ô1, khu phố Thanh Hà, thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Năm 2005, ông Hiệp và bà Nga ly hôn, về nhà và đất thỏa thuận tạm thời giao ông Hiệp quản lý, sử dụng đến khi hai con là Huỳnh Hữu Nghĩa (sinh năm 1994) và Huỳnh Thị Thủy Tiên (sinh năm 2002) trưởng thành thì giao lại cho hai con.
Ngày 21/9/2017, ông Hiệp được UBND huyện Gò Dầu GCNQSDĐ nên anh Nghĩa khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Hiệp. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng tại thời điểm khởi kiện chỉ có anh Nghĩa là đã đủ 18 tuổi, còn chị Huỳnh Thị Thủy Tiên chưa đủ 18 tuổi nên đình chỉ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Luật TTHC 2015): “Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.
Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định không đúng về điều kiện khởi kiện vụ án hành chính, theo quy định của điều luật đã viện dẫn ở trên thì điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính phải được Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định như: Chủ thể khởi kiện thuộc trường hợp quy tại khoản 2,3 Điều 54 (đương sự không đủ 18 tuổi, bị mất năng lực hoặc hạn chế năng lực dân sự); Người khởi kiện không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 3 (người không bị xâm phạm trực tiếp về quyền và lợi ích bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện); đối tượng khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại Điều 30 Luật TTHC 2015; Chưa thực hiện thủ tục khiếu nại theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 115 (Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó).
Lẽ ra trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm phải yêu cầu cử người đại diện theo pháp luật của chị Tiên để đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 4 Điều 54 Luật TTHC 2015: “Đương sự là người chưa thành niên thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật”. Mặc khác, nếu xác định khi chị Tiên đủ 18 tuổi mới đủ điều kiện khởi kiện thì lúc đó thời hiệu khởi kiện đối với GCN QSDĐ đã cấp cho ông Hiệp không còn.
Do vậy, Quyết định số 780/2019/QĐ-PT ngày 30/10/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy quyết định đình chỉ số 02/2019 ngày 02/8/2019 của TAND tỉnh Tây Ninh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
1.2. Không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tổ tụng trong vụ án hành chính
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật TTHC 2015: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Tuy nhiên, có rất nhiều vụ án vi phạm về quy định này, mặc dù Viện cấp cao 3 đã nhiều lần rút kinh nghiệm nhưng các VKS địa phương vẫn không phát hiện để thực hiện quyền yêu cầu hoặc quyền kháng nghị dẫn đến bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy án. Điển hình là các vụ án sau:
- Vụ án thứ nhất: Ông Mai Phú Túc khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 362/QĐ-UBND ngày 18/02/2004 của UBND, hủy Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 1275/QĐ-UBND ngày 23/07/2015 của Chủ tịch UBND huyện Châu Phú và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 72/QĐ-UBND ngày 14/01/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh An Giang.
Theo hồ sơ vụ án, UBND huyện Châu Phú thu hồi 6.597,7m đất tọa lạc tại ấp Bình Hưng, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang của hộ ông Mai Phú Túc vào năm 2002 để thực hiện Dự án Khu công nghiệp Bình Long. Trong tổng diện tích thu hồi, UBND huyện Châu Phú bồi thường cho hộ bà Phùng Thị Tuyết 2.592,8m trong khi ông Túc xác định chỉ chuyển nhượng cho bà Tuyết 2.000m và bồi thường 366,7m cho 04 người ở nhờ trên đất của ông Túc gồm các ông, bà Nguyễn Thị Tư, Nguyễn Quốc Minh, Nguyễn Văn Long và Nguyễn Sinh Cô. Hiện bà Tuyết và 04 người ở nhờ trên đất của ông Túc đã nhận tiền bồi thường.
Do nội dung khởi kiện của ông Túc về giá bồi thường và diện tích đất bồi thường bị thiếu nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bà Phùng Thị Tuyết và 04 người ở nhờ nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật TTHC 2015, làm cho họ không thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng dẫn đến quyền lợi của họ không được bảo vệ theo quy định của pháp luật.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 654/HC-PT ngày 17/9/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên hủy án sơ thẩm để xét xử lại do vi phạm về thủ tục tố tụng và nội dung theo kháng nghị của VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Vụ án thứ hai: Bà Ngô Thị Thu Ba khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 811/QĐ-UBND ngày 13/4/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh.
Vào năm 1973, chính quyền cách mạng cấp cho ông Phan Tấn Ánh là chồng bà Ba 7.500m’ đất tọa lạc tại ấp Hội Tân, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Năm 1977, do chiến tranh biên giới Tây Nam, có một số việt kiều từ Campuchia về ở nhờ trên phần đất khoảng 3.312m đất của gia đình bà Ba. Sau chiến tranh hầu hết những người ở nhờ trả lại đất cho bà Ba, chỉ có bà Nguyễn Thị Bảy (Bảy Thành) giao phần đất ở nhờ cho em ruột là ông Nguyễn Đức Chính.
Năm 1982, ônh Chính chuyển nhượng căn nhà và hoa màu trên đất cho ông Trần Văn Chiếu. Cũng trong năm 1982, ông Chiếu ủy quyền cho en ruột là ông Trần Văn Sáng sử dụng nhà và đất này. Năm 1996, UBND huyện Tân Châu cấp GCNQSDĐ cho ông sáng với diện tích 3.312m nhưng thực tế ông Sáng chỉ sử dụng 1.188m, còn lại 2.124m2 vẫn do bà Ba quản lý, sử dụng từ năm 1973 cho đến nay. Ngày 16/11/1998, ông Sáng chuyển nhượng 1.188m cho bà Trần Thị Phượng, bà Phượng được UBND huyện Tân Châu cấp GCNQSDD số 01552. Khi bà Phượng xây nhà trên đất để ở thì bà Ba khiếu nại. Cả Quyết định giải quyết lần đầu số 1923 của Chủ tịch UBND huyện Tân Châu và Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 811 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh đều bác yêu cầu khiếu nại của bà Ba.
Bản án sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện của bà Ba về yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 811 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh.
- Về nội dung: Thủ tục ý kê khai quyền sử dụng đất của ông Sáng có nhiều tình tiết không rõ ràng như: Ông sáng đăng ký là 1.500m nhưng có dấu hiệu sửa thành 3.312m và không có chữ ký của ông Sáng nhưng UBND xã vẫn ký xác nhận và UBND huyện Tân Châu căn cứ vào xác nhận này cấp GCN QSDĐ cho ông Sáng. Đối với đơn đăng ký kê khai quyền sử dụng đất của ông Phan Tấn Ánh (chồng bà Ba) đăng ký là 29.137m thì sửa lại là 27.774m nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ tình tiết này để xem xét việc cấp GCN QSDĐ cho ông Sáng có hợp pháp hay không,
- Về tố tụng: Do nội dung khởi kiện có liên quan đến việc cấp GCN QSDĐ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện Tân Châu và ông Phan Tấn Ánh (chồng bà Ba), bà Nguyễn Thị Bảy, ông Nguyễn Đức Chính, Trần Văn Chiếu và ông Trần Văn Sáng vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 763/2019/HC-PT ngày 23/10/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2016/HC-ST ngày 14/6/2016 của TAND tỉnh Tây Ninh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.
1.3. Không đưa người bị kiện tham gia tố tụng trong vụ án hành chính
Ngày 17/01/2017 Chủ tịch UBND thị xã La Gi ban hành Quyết định xử phạt VPHC số 103/QD-XPVPHC về lĩnh vực đất đai đối với bà Phạm Thị Nhơn về hành vi cất nhà tạm trên diện tích đất lấn chiếm. Bà Nhơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định xử phạt VPHC số 103/QD-XPVPHC và yêu cầu Tòa án buộc UBND thị xã La Gi thực hiện hành vi cấp GCN QSDĐ đối với diện tích đo đạt thực tế là 2.011,7 m tọa lạc tại khu phố 10, phường Phước Hội, thị xã La Gia, tỉnh Bình Thuận (trong đó có diện tích 71,88 m bà đã cất nhà tạm bị xử phạt).
Bản án sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nhơn, hủy Quyết định xử phạt VPHC số 103/QD-XPVPHC của Chủ tịch UBND thị xã La Gi và buộc UBND thị xã La Gi cấp GCN QSDĐ cho bà Nhơn đối với diện tích 2.011,7 mỉ tại khu phố 10, phường Phước Hội, thị xã La Gia, tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời buộc UBND thị xã La Gi chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử: Bản án sơ thẩm buộc UBND thị xã La Gi cấp GCNQSDĐ cụ thể đối với diện tích 2.011,7 m cho bà Nhơn là trái pháp luật vì Hội đồng xét xử khi xem xét hành vi hành chính bị khởi kiện chỉ có thẩm quyền buộc người bị kiện chấm dứt hành vi nếu có căn cứ xác định hành vi đó là trái pháp luật theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015: “Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố hành vi hành chính là trái pháp luật, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật”.
- Về tố tụng: Bản án sơ thẩm tuy buộc UBND thị xã thực hiện hành vi cấp GCN QSDĐ và phải đóng án phí hành chính sơ thẩm nhưng lại không đưa UBND thị xã La Gi tham gia tố tụng làm cho người bị khởi kiện không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 57 Luật TTHC 2015.
- Về nội dung: Diện tích 2.011,7 m mà bà Nhơn yêu cầu buộc UBND thị xã La Gi cấp GCN QSDĐ đã được UBND các cấp, Thanh tra Chính phủ ban hành quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung bác yêu cầu của bà Nhơn và UBND tỉnh Bình Thuận đã ban hành Thông báo số 195/TB-UBND chấm dứt thụ lý khiếu nại của bà Nhơn. Từ đó Quyết định xử phạt VPHC số 103/QD- XPVPHC đối với bà Nhơn là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét các tài liệu này nên quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nhơn là trái với quy định của Luật Đất đai.
Xét thấy những vi phạm về tố tụng của bản án sơ thẩm là căn cứ để hủy bản án, tuy nhiên về nội dung đủ cơ sở để sửa án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nhơn và buộc bà Nhơn phải chịu ánh phí sơ thẩm, do vậy không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của UBND thị xã La Gi nên Bản án hành chính phúc thẩm số 447/2019/HC-PT ngày 15/7/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nhơn và buộc bà Nhơn phải chịu ánh phí sơ thẩm.
Ngoài ra tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên chỉ phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nhưng không phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là không đúng quy định tại Điều 190 Luật TTHC 2015: “Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”.
Điều này thể hiện Kiểm sát viên không thực hiện đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa hành chính sơ thẩm.
1.4. Xác định thời hiệu khởi kiện của quyết định hành chính có liên quan không đúng, dẫn đến không xem xét, giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đương sự
Vụ án thứ nhất: Bà Phạm Thị Kim Cúc khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 25/8/2010 của UBND Quận Phú Nhuận về việc thu hồi hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (viết tắt là GCN QSDĐ ở và QSHN ở) số 3392/2003 ngày 30/12/2003 do UBND Quận Phú Nhuận cấp cho ông Lê Dẽo và bà Phạm Thị Kim Cúc, hủy Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 2169/QĐ-UBND ngày 06/5/2014 của Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh và hủy Quyết định giải quyết lần đầu số 906/QĐ-UBND ngày 03/9/2014 của Chủ tịch UBND quận Phú Nhuận có nội dung thu hồi Quyết định giải quyết lần đầu số 268/QĐ-UBND ngày 08/8/2012.
Theo hồ sơ vụ án, Năm 1967 bà Lê Thị Bông ủy quyền cho cháu là ông Lê Dẽo được quyền làm chủ căn nhà số 14B Lê Quý Đôn, Phường 12, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, toàn bộ diện tích đất này nằm trong 2.942 m thuộc Bằng khoán điền thổ số B.659 Sài Gòn - Phú Nhuận lập năm 1952 cấp cho ông Trần Văn Mĩ là ông nội của ông Trần Văn Khải.
Năm 1977, ông Dẽo đứng tên kê khai nhà đất, diện tích đất là 55m’; năm 1989, ông Dẽo kê khai diện tích đất ở 36m, diện tích xây dựng 30m; Năm 2003, bà Phạm Thị Kim Cúc là vợ ông Lê Dẽo kê khai, đăng ký và được UBND Quận Phú Nhuận cấp GCN QSDDĐ ở và QSHN ở số 3392/2003 cho ông Lê Dẽo và bà Phạm Thị Kim Cúc với diện tích 145,6m.
Sau khi ông Dẽo chết, các thành viên trong gia đình bà lập hợp đồng tặng cho bà Cúc toàn bộ phần đất thuộc phần di sản thừa kế của ông Dẽo. Trên cơ sở đó, bà Cúc đăng ký biến động vào năm 2005. Ngày 18/01/2010, bà Cúc chuyển nhượng toàn bộ nhà và đất cho ông Đàm Quang Huỳnh.
Do có khiếu nại của Ông Khải, UBND Quận Phú Nhuận ban hành Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 25/8/2010 thu hồi, hủy bỏ GCN QSDĐ ở và QSHN ở số 3392/2003 đã đăng ký biên động của bà Cúc với lý do không kiểm tra nguồn gốc đất và việc sử dụng đất thực tế của bà Cúc. Ngày 08/8/2012, UBND Quận Phú Nhuận ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 268/QĐ- UBND có nội dung giao cho gia tộc ông Trần Văn Khải quản lý sử dụng phần đất có bia mộ ghi tên ông Trần Văn Đạo diện tích 32,8m, vị trí nằm ngoài khuôn viên nhà 14B Lê Quý Đôn do UBND quận Phú Nhuận đã cấp Giấy chứng nhận cho bà Cúc trước đây. Không giải quyết nội dung đơn của ông Khải về việc xin quản lý sử dụng phần đất có kiến trúc mộ trong khuôn viên nhà 14B Lê Quý Đôn đã cấp Giấy chứng nhận cho bà Cúc.
Do có khiếu nại của ông Khải, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 2169/QĐ-UBND ngày 06/5/2014 có nội dung yêu cầu Chủ tịch UBND quận Phú Nhuận thu hồi, hủy bỏ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 268/QĐ-UBND, rà soát lại việc cấp GCN QSDĐ ở và QSHN ở đối với nhà 14B Lê Quý Đôn.
Căn cứ Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 2169 của Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch UBND quận Phú Nhuận ban hành Quyết định số 906/QĐ-UBND ngày 30/9/2014 thu hồi, hủy bỏ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 268/QĐ-UBND. Như vậy, Quyết định số 79/QĐ- UBND ngày 25/8/2010 thu hồi GCN QSDĐ ở và QSDN ở của bà Cúc là quyết định hành chính có liên quan đến Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 2169/QĐ-UBND và Quyết định số 906/QĐ-UBND có nội dung thu hồi Quyết định giải quyết lần đầu số 268/QĐ-UBND. Do đó cần phải được xem xét giải quyết trong cùng một vụ án.
TAND Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Cúc đối với Quyết định số 79/QĐ-UBND do thời hiệu khởi kiện đã hết là không đúng theo quy định tại mục 5 Phần V Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Chánh án TAND tối cao: “Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp đối với tất cả các quyết định hành chính khác có liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện mà không phụ thuộc vào việc các quyết định này còn hay hết thời hiệu khởi kiện”.
Mặc khác, Quyết định giải quyết lần đầu số 268/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND quận Phú Nhuận là phù hợp với Luật Đất đai vì vợ chồng bà Cúc đã có quá trình sử dụng đất từ năm 1967 cho đến khi có tranh chấp và có thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 667/2019/HC-PT ngày 20/9/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 1265/2018 ngày 13/9/2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử lại.
- Vụ án thứ hai: Ngày 03/4/2012, UBND huyện Ninh Phước ban hành Quyết định thu hồi đất số 707/QĐ-UBND, thu hồi diện tích 3.844 mỉ đất nông nghiệp của ông Lê Thượng Hoàng (đã chết) do xác định việc Hợp tác xã nông nghiệp giao đất cho ông Hoàng vào năm 1979 là không đúng pháp luật về thẩm quyền. Do ông Lê Bá Tiên (con đẻ của ông Hoàng) khiếu nại, Chủ tịch UBND huyện Ninh Phước ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 2401/QĐ-UBND ngày 02/10/2012 có nội dung bác đơn khiếu nại của ông Tiên.
Ngày 21/9/2016, ông Tiên tiếp tục khiếu nại Quyết định thu hồi đất số 707/QĐ-UBND và Chủ tịch UBND Ninh Phước tiếp tục ban hành Văn bản số 662/UBND- NC ngày 27/3/2017 bác khiếu nại của ông Tiên.
Ngày 01/02/2018, UBND xã Phước Sơn lập Biên bản vi phạm hành chính (VPHC) về hành vi lấn chiếm đất của ông Tiên. Ngày 07/02/2018, Chủ tịch UBND huyện Ninh Phước ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (BPKPHQ) số 219/QĐ-KPHQ buộc ông Tiên khôi phục lại diện tích 3.844 m đất lấn chiếm, giao cho UBND xã Phước Sơn quản lý. Do ông Tiên không tự nguyện chấp hành, Chủ tịch UBND huyện Ninh Phước ban hành Quyết định cưỡng chế số 401/QĐ-CCXP ngày 23/3/2018 buộc ông Sơn thi hành Quyết định áp dụng BPKPHQ số 219/QĐ-KPHQ.
Bản án sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện của ông Tiên về yêu cầu hủy Quyết định cưỡng chế số 401/QĐ-CCXP của Chủ tịch UBND huyện Ninh Phước. Đối với Quyết định thu hồi đất số 707/QĐ-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 2401/QĐ-UBND đã hết thời hiệu khởi kiện nên không xem xét.
Về tố tụng: Quyết định thu hồi đất số 707/QĐ-UBND, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 2401/QĐ-UBND và Quyết định áp dụng BPKPHQ số 219/QĐ-KPHQ có liên quan đến quyết định cưỡng chế nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét các quyết định này để làm cơ sở xem xét tính hợp pháp, tính có căn cứ của Quyết định cưỡng chế số 401/QĐ-CCXP là có thiếu sót và trái với quy định tại mục 5 Phần V Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Chánh án TAND tối cao đã viện dẫn ở trên.
Về nội dung: Do không xem xét Quyết định thu hồi đất số 707/QĐ- UBND dẫn đến việc Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ trường hợp của ông Tiên đủ điều kiện để cấp GCN QSDĐ hay không theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị đinh 43/2014/NĐ-CP: “Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này”.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 622/2019/HC-PT ngày 09/9/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2018 ngày 13/9/2018 của TAND tỉnh Ninh Thuận để xét xử lại.
1.5. Không tiến hành đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
Khác với Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC 2015 quy định thủ tục đối thoại là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án. Thủ tục này được quy định tại Điều 20 Luật TTHC 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này”.
Trong vụ án hành chính giữa người khởi kiện là bà Nguyễn Ngọc Viện khởi kiện Quyết định cưỡng chế thu hồi đất số 3074/QD-UBND ngày 17/1112017 của Chủ tịch UBND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Trong quá trình giải quyết vụ án, TAND tỉnh Long An quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn theo quy định của Điều 247 Luật TTHC 2015. Tại phiên tòa rút gọn, do phát sinh nhiều tình tiết mới nên Thẩm phán quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường theo khoản 2 Điều 246 Luật TTHC 2015 nhưng sau đó không tiến hành các thủ tục đối thoại theo Điều 136 quy định về việc thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại; Điều 137 quy định về thành phần, Điều 138 quy định về trình tự phiên họp, Điều 139 quy định về biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản đối thoại.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét Quyết định thu hồi đất số 4211/QD-UBND ngày 161/11/2007 với lý do đã hết thời hạn khởi kiện là vi phạm mục 5 Phần V Giải đáp số 01/2017/GĐ- TANDTC ngày 07/4/2017 của Chánh án TAND tối cao (đã viện dẫn ở tiểu mục 2.1.3).
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 768/2019/HC-PT ngày 25/10/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 166/20181/HC-ST ngày 30/1112018 của TAND tỉnh Long An để xét xử lại.
1.5. Không thực hiện đầy đủ quyền hạn của Hội đồng xét xử
Căn cứ Quyết định số 2313/QĐ-UBND ngày 19/5/2015 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc giao 321.301 mỏ đất tại phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9 cho Công ty A Sung để thực hiện Dự án khu dân cư 7/5. Trong đó có diện tích 5.227,1 m đất của vợ chồng ông Phan Như Hải và bà Nguyễn Thị Lịch. Ngày 21/9/2010 UBND Quận 9 ban hành Quyết định bồi thường số 1498/QĐ-UBND bồi thường cho bà Lịch với số tiền 210.000.000 đ. Do Bà Lịch không tự nguyện giao đất, Chủ tịch UBND Quận 9 ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất số 198/QĐ-UBND ngày 14/7/2015 đối với diện tích 5.227,1 m của bà Lịch thì ông Vũ Văn Cường khiếu nại yêu cầu UBND Quận 9 ghi tên ông vào các quyết định thu hồi đất và bồi thường đối với diện tích 5.227,1 m đất của bà Lịch.
Ngày 26/7/2016, UBND Quận 9 ban hành Công văn số 1920/UBND-BBT có nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông Cường. Do đó ông Cường khởi kiện hủy Công văn số 1920/UBND.
Bản án sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cường, hủy Công văn số 1920/UBND.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ông Cường kháng cáo yêu cầu Tòa án tuyên cụ thể về việc ghi tên ông Cường vào các quyết định thu hồi và bồi thường đối với diện tích 5.227,1 m đất của bà Lịch; UBND Quận 9 (người bị kiện) và Công ty TNHH A Sung (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) kháng cáo yêu cầu bác
đơn khởi kiện của ông Cường.
Xét thầy bản án sơ thẩm căn cứ vào Giấy mua bán ngày 29/12/2000 thể hiện nội dung ông Hải (chồng bà Lịch, đã chết năm 2009) đã bán cho ông Cường 3.000 mỏ đất trong số 5.227,1 m đất của bà Lịch bị thu hồi; căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh 4112007595 ngày 16/4/2002 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận Xưởng mộc 2 của Công ty TNHH Tứ Cường (do ông Cường là người đại diện theo pháp luật) hoạt động tại số 126/4, ấp Giãn Dân, phường Long Thạnh Mỹ, Quận 6 (là địa chỉ diện tích 5.227,1 mỏ đất thu hồi của bà Lịch) và Biên bản kiểm kê ngày 05/10/2005 của Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận 9 thể hiện trong diện tích 5.227,1 m thu hồi của bà Lịch thì có 3.000 m đất của ông Cường để hủy bỏ Công văn số 1920/UBND là đúng quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: “Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101 và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì được bồi thường về đất”.
Tuy nhiên, khi quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cường, hủy bỏ Công văn số 1920/UBND nhưng lại không tuyên buộc UBND Quận 9 bổ sung ông Cường vào các quyết định thu hồi, bồi thường là không đúng quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015 quy định về thảm quyền của Hội đồng xét xử: “Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy”.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 671/2019/HC-PT ngày 24/9/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 1201/2018/HC-ST ngày 31/8/2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Công văn số 1920/UBND và buộc UBND Quận 9 giải quyết yêu cầu được bồi thường hỗ trợ khi Nhà nướcc thu hồi đất của ông Cường đang quản lý, sử dụng.
1.6. Không xem xét đến việc người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện, dẫn đến quyết định không đúng với diễn biến khách quan tại phiên tòa
Ông Võ Thành Miên khiếu nại yêu cầu UBND thành phố Mỹ Tho điều chỉnh tăng diện tích đất trong cấp GCNQSDĐ ở và QSHN ở số 12976 của ông được cấp năm 2004 từ 87,53 m thành 95,97 m. Qua đo đạt thực tế của các cơ quan chuyên môn vào ngày 02/11/20116, ông Miễn mới biết bà Trần Thị Bé được cấp GCNQSDĐ ở và QSHN ở số 2854 dư 08 mỉ nên ông khởi kiện đến Tòa án yêu cầu hủy GCNQSDĐ ở và QSHN ở số 2854 đã cho bà Bé và buộc UBND thành phố Mỹ Tho điều chỉnh tăng diện tích đất ở cho ông từ 87,53 m thành 93,31 m.
Bản án hành chính sơ thẩm quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Miên.
Xét thấy trong thời gian nghị án, ông Miên có đơn rút yêu cầu khởi kiện nhưng Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không xét để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 165 Luật TTHC 2015: “Tại phiên tòa, nếu có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 của Luật này thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án”.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 542/2019/HC-PT ngày 14/8/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2018/HC-ST ngày 01/11/2018 của TAND tỉnh Tiền Giang để xét xử lại.
2. Vi phạm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án hành chính
2.1. Áp dụng pháp luật không đúng trong trường hợp bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra
Diện tích 4.509 m đất nông nghiệp (được UBND Quận 2 cấp GCN QSDĐ số Y 569408 ngày 23/9/2003) của bà Hà Thanh Hưng bị thu hồi để thực hiện Dự án khu dân cư Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 13/5/2015, UBND Quận 2 ban hành Quyết định bồi thường số 2066/QD-UBND bồi thường cho bà Hưng theo giá đất được quy định tại Phương án bồi thường số 21/PA-HĐBT ngày 09/01/2007 là 150.000 đồng/m3. Do có khiếu nại của bà Hưng về giá bồi thường, Chủ tịch UBND Quận 2 ban hành Quyết định giải quyết lần đầu số 4931/QĐ-UBND-TTr ngày 03/12/2015 có nội dung giữ nguyên giá bồi thường theo Quyết định bồi thường số 2066/QD- UBND. Do bà Hưng không tự nguyện giao đất, Chủ tịch UBND Quận 2 ban hành Quyết định cưỡng chế số 7311QĐ-UBND ngày 02/8/2016.
Bản án sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện của bà Hưng về yêu cầu hủy Quyết định bồi thường số 2066/QD-UBND của UBND Quận 2, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 4931/QĐ-UBND-TTr và Quyết định cưỡng chế số 7311QĐ-UBND của Chủ tịch UBND Quận 2.
Xét thấy tại Quyết định số 1605/QD-UBND ngày 15/02/2007 của UBND Quận 2 phê duyệt Phương án bồi thường số 21/PA-HĐBT ngày 09/01/2007 quy định thời hạn áp dụng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các dự án không quá 12 tháng kể từ ngày phương án được phê duyệt. Trong khi đó, Phương án bồi thường số 21/PA-HĐBT được UBND Quận 2 phê duyệt vào năm 2007 nhưng lại áp dụng khi ban hành Quyết định bồi thường số 2066/QD-UBND vào năm 2015.
Mặt khác, Quyết định thu hồi đất số 2638/QĐ-UB được UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 10/6/2004 nhưng đến năm 2015 UBND Quận 2 mới ban hành Quyết định bồi thường số 2066/QD-UBND. Như vậy lỗi bồi thường chậm là do cơ quan Nhà nước gây ra nhưng UBND Quận 2 lại áp dụng giá đất của năm 2007 để bồi thường cho người có đất bị thu hồi là trái với quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 9 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004: “Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
Bản án sơ thẩm chấp nhận ý kiến của UBND Quận 2 cho rằng ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo Quyết định bồi thường số 2066/QD-UBND, chủ đầu tư của Dự án đã hỗ trợ thêm cho bà Hưng nên tổng số tiền bồi thường mà bà Hưng được nhận lớn hơn nhiều so với quy định của Nhà nước để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hưng là không đúng quy định của pháp luật vì phương án bồi thường của Nhà nước khi thu hồi đất là do pháp luật đất đai quy định nên cần phải thực hiện đúng, việc chủ đầu tư hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi là ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Đất đai.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 620/2019/HC-PT ngày 05/9/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã sửa Bản án sơ thẩm số 1628/2017/HC-ST ngày 14/12/2017 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hưng; hủy Quyết định bồi thường số 2066/QD- UBND của UBND Quận 2, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 4931/QĐ-UBND-TTr và Quyết định cưỡng chế số 7311QĐ-UBND của Chủ tịch UBND Quận 2.
2.2. Áp dụng pháp luật không đúng về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, làm thiệt hại đến tài sản hợp pháp của đương sự
Vợ chồng ông Mai Anh Quốc và bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền là chủ sở hữu căn nhà số 30C tọa lạc tại đường số 3, phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (đã được cấp GCNQSDĐ & QSHNƠ). Theo Giấp phép xây dựng số 55/GPXD ngày 26/5/2015 thì vợ chồng ông Quốc được phép xây dựng với quy mô 02 tầng, diện tích xây dựng tầng 1 là 79,5 m, tổng diện tích sàn xây dựng là 159 m.
Ngày 14/12/2015, Đội thanh tra xây dựng quận Gò vấp lập biên bản VPHC số 50/BB-VPHC về hành vi xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng. Cụ thể là tăng diện tích xây dựng của tầng 1, tầng 2 và tầng lửng là 58,12 m”, tăng diện tích phần hiện ngói ngoài chủ quyền là 23,58m, trổ cửa đi và cửa sổ làm sai kiến trúc bên ngoài công trình, theo giấy phép xây dựng là mái hiện bằng tôn thay đổi bằng sàn bê tông cốt thép. Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định xử phạt VPHC số 1624/QĐ-XPVPHC ngày 25/12/2015 với hình thức xử phạt tiền 7.500.000 đ và buộc tháo dỡ phần xây dựng không đúng giấy phép.
Ngày 31/3/2016, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định định cưỡng chế số 110/QĐ-CC buộc bà Tuyền chấp hành Quyết định xử phạt VPHC số 1624/QĐ-XPVPHC.
Bản án sơ thẩm quyết định quyết định bác đơn khởi kiện của bà Tuyền về yêu cầu hủy Quyết định xử phạt VPHC số 1624/QĐ-XPVPHC; Đình chỉ yêu cầu của bà Tuyền về việc buộc Chánh thanh tra Sở Xây dựng công khai xin lỗi và bồi thường 100.000.000 ₫ (do người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện).
Xét thấy Quyết định xử phạt VPHC số 1624/QĐ-XPVPHC xử phạt tiền đối với bà Tuyền về hành vi xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng là đúng quy định tại điểm b, khoản 5 Điều 13 Nghị định 121/NĐ-CP ngày 10/10/2013. Tuy nhiên, Biên bản VPHC số 50/BB-VPHC không thể hiện công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ của bà Tuyền vi phạm chỉ giới xây dựng hoặc làm ảnh hưởng đến các công trình lân cận, trong khi bà Tuyến xây dựng trên diện tích đất hợp pháp và không có tranh chấp nên thuộc trường hợp cho phép công trình tồn tại theo quy định tại khoản 9 Điều 13 của Nghị định này: “Hành vi quy định tại Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6 và Điểm b Khoản 7 Điều này mà không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được bằng 40% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép đối với công trình là nhà ở riêng lẻ và bằng 50% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được phê duyệt hoặc sai quy hoạch xây dựng hoặc thiết kế đô thị được duyệt đối với công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng hoặc công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình. Sau khi chủ đầu tư hoàn thành việc nộp phạt thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng”.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 498/2019/HC-PT ngày 24/7/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã sửa Bản án sơ thẩm số 291/2018/HC-ST ngày 16/3/2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tuyền.
2.3. Áp dụng pháp luật về chuyển mục đính sử dụng đất không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất
Ông Vũ Văn Khung được UBND thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa) cấp GCNQSDĐ số M 143755 có diện tích 1.411.1 mỏ đất nông nghiệp và UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp GCNQSDĐ số M 434517 đối với diện tích 539 m, trong đó có 300 mỏ đất ở (đã được ông Khung chuyển nhượng trước khi chết).
Căn cứ vào biên bản thỏa thuận chia thừa kế quyền sử dụng đất (ông Khung chết 2003), UBND thành phố Bà Rịa thu hồi GCNQSDĐ số M 143755 và cấp cho bà Vũ Thị Lài GCN QSDĐ số D 027589 với diện tích 600 m đất nông nghiệp (thuộc một phần của diện tích 1.411.1 mẻ trong GCNQSDĐ số M 143755 đã cấp cho ông Khung trước đây). Trên diện tích được cấp GCN QSDĐ, bà Lài đã cất một căn nhà cấp 4 từ năm 1998 (Phòng Quản lý đô thị thành phố Bà Rịa có phiếu đề xuất số 17/PDX có nội dung đồng ý cho bà Lài xây dựng nhà).
Do bà Lài kiến nghị về việc công nhận đất ở đối với 300 m thuộc một phần của diện tích 600 m theo GCNQSDĐ số D 027589, UBND thành phố Bà Rịa ban hành Công văn số 1356/UBND-VP ngày 30/5/2016 có nội dung không công nhận đất ở đối với diện tích 600 m của bà Lài đã được cấp GCN QSDĐ số số D 027589 do ông Khung đã được cấp 300 mỏ đất ở tại GCN QSDĐ số M 434517 (đã chuyển nhượng cho người khác trước khi chết). Do bà Lài tiếp tục khiếu nại, Chủ tịch UBND thành phố Bà Rịa ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3894/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 có nội dung giữ nguyên Công văn số 1356/UBND-VP.
Bản án sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện của bà Lài về yêu cầu hủy Công văn số 1356/UBND-VP, Quyết định giải quyết khiếu nại số 3894/QĐ- UBND và bác yêu cầu buộc UBND thành phố Bà Rịa công nhận 300 m đất ở thuộc một phần của diện tích 600 m theo GCNQSDĐ số D027589.
Xét thấy căn cứ mà UBND thành phố Bà Rịa không công nhận đất ở theo yêu cầu của bà Lài là không đúng quy định của Luật Đất đai năm 2015, cụ thể:
Điều 52 quy định căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là: “(1) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; (2) Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất”.
Khoản1, 2 Điều 103 quy định: “1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.
2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.
Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này”.
Do vậy, Bản án hành chính phúc thẩm số 631/2019/HC-PT ngày 10/9/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã sửa Bản án sơ thẩm số 04/2018/HC-ST ngày 13/3/2018 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lài, hủy Công văn số 1356/UBND-VP và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3894/QĐ-UBND, buộc UBND thành phố Bà Rịa công nhận 300 mỏ đất ở thuộc một phần của diện tích 600 mỉ theo GCN QSDĐ số D027589.
Trên đây là tình hình án hủy, sửa và một số vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án hành chính dẫn tới việc hủy án và sửa án. Những dạng vi phạm trên có một số vi phạm đã được Viện cấp cao 3 rút kinh nghiệm trong 06 tháng đầu năm nhưng vẫn tiếp tục vi phạm trong 06 tháng cuối năm. Do đó Viện cấp cao 3 thông báo đến các VKSND tỉnh, thành phố trong khu vực biết để rút kinh nghiệm chung, đồng thời đề nghị các VKS địa phương có giải pháp cụ thể để khắc phục, không lặp lại các vi phạm trên nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính đối với TAND cùng cấp trong thời gian tới./.