Thông báo rút kinh nghiệm số 18/TB-VC1-HC ngày 10/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với bản án sơ thẩm có vi phạm bị Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kháng nghị phúc thẩm liên quan đến khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 18/TB-VC1-HC NGÀY 10/4/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI ĐỐI VỚI BẢN ÁN SƠ THẨM CÓ VI PHẠM BỊ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CÙNG CẤP KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM LIÊN QUAN ĐẾN KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Quyền sử dụng 435m² đất tại thửa đất số 202, tờ bản đồ P10 tại thôn CT, xã CL, huyện HY (nay thuộc thị xã QY) là tài sản chung của vợ chồng ông Dương Văn B và bà Dương Thị L. Chị Dương Thị M là con gái của ông B, bà L nhưng không phải là thành viên trong “hộ gia đình” tại thời điểm ông B, bà L được Ủy ban nhân dân huyện YH cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chị M không có các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, do đó cũng không có quyền cản trở ông B, bà L thực hiện quyền của mình trong việc tặng cho quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
Ngày 01/9/2016, ông B và bà L lập Hợp đồng tặng cho một phần diện tích đất cho hai con trai, việc tặng cho này là tự nguyện, phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Điều 122, 123, 124, 722, 723 Bộ luật Dân sự năm 2005 đang có hiệu lực tại thời điểm giao dịch.
Chị M có “Thư khiếu nại” với nội dung: Không đồng ý việc ông B và bà L tách thửa cho anh V và anh D mà giữ nguyên để sau này làm nhà thờ, các anh chị nơi xa về có chỗ trú chân. Đây là đơn đề nghị, phản ánh nguyện vọng của chị M đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phải là đơn khiếu nại, tranh chấp đất đai vì theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa các bên trong quan hệ đất đai. Chị M không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến thửa đất nên không phải là chủ thể tranh chấp đất đai. Mặt khác, theo quy định của Luật khiếu nại thì chị Dương Thị M không có quyền khiếu nại do việc tách thửa không xâm phạm đến quyền và lợi ích của chị M.
Ủy ban nhân dân thị xã QY xác định đất thửa đất đang có tranh chấp nên không tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ ông B và bà L. sang cho hai con trai là anh D và anh V là không chính xác. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc Ủy ban nhân dân không thực hiện tách thửa là có căn cứ, từ đó bác đơn khởi kiện của ông B và bà L là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, bà L, anh D và anh V.
Các sai sót nêu trên của bản án sơ thẩm đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN phát hiện và ban hành kháng nghị phúc thẩm kịp thời. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã phân tích, lập luận chặt chẽ, bảo vệ kháng nghị và được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn B và bà Dương Thị L; hủy Văn bản số 484/UBND-TNMT ngày 14/3/2017 của UBND thị xã QY về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân; Buộc Ủy ban nhân dân thị xã QY thực hiện thủ tục tách thửa và chuyển quyền sử dụng đất từ ông Dương Văn B và bà Dương Thị L sang cho các anh Dương Mạnh D và Dương Văn V.
Từ vụ án kháng nghị có chất lượng nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị các Viện kiểm sát địa phương cùng tham khảo, rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính nói chung, công tác kháng nghị phúc thẩm nói riêng./.