Thông báo rút kinh nghiệm số 337/TB-VKSTC ngày 20/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc rút kinh nghiệm nghiệp vụ liên quan đến thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản, hoãn thi hành án và bảo quản tài sản thi hành án
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 337/TB-VKSTC NGÀY 20/5/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC RÚT KINH NGHIỆM NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN THÔNG BÁO CÔNG KHAI VIỆC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN, HOÃN THI HÀNH ÁN VÀ BẢO QUẢN TÀI SẢN THI HÀNH ÁN
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
1. Kiểm sát hồ sơ bán đấu giá tài sản thi hành án về thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản
Theo quy định tại Điều 57 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 về thông báo công khai việc đấu giá tài sản đối với tài sản đấu giá là bất động sản: “... thì tổ chức đấu giá tài sản phải thông báo công khai ít nhất hai lần trên báo in hoặc báo hình của Trung ương hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản đấu giá ...”
Luật Đấu giá tài sản năm 2016 không quy định cụ thể thời gian phát sóng đối với báo hình về thông báo công khai việc đấu giá tài sản đối với tài sản đấu giá là bất động sản vào thời gian nào trong ngày. Do đó, VKSND tỉnh H ban hành Kết luận kiểm sát cho rằng Công ty đấu giá HD thông báo công khai việc đấu giá tài sản như trên đã phần nào hạn chế số người nhận được thông tin để tham gia đấu giá dẫn đến việc ảnh hưởng kết quả bán đấu giá mà không chỉ ra được Công ty đấu giá HD vi phạm quy định, điều khoản, luật cụ thể nào của pháp luật hiện hành là không có cơ sở.
2. Kiểm sát hồ sơ thi hành án về việc hoãn thi hành án
Trường hợp Chấp hành viên lập biên bản về việc người được thi hành án yêu cầu tạm dừng thi hành án để các bên thỏa thuận phương thức thanh toán, không thuộc trường hợp Thủ trưởng Cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật THADS năm 2014.
Chấp hành viên không có thẩm quyền ra quyết định hoãn thi hành án theo quy định tại Điều 48 Luật THADS năm 2014.
Do đó, VKSND tỉnh T ban hành Kết luận kiểm sát cho rằng Chấp hành viên không ra Quyết định hoãn thi hành án theo khoản 1 Điều 48 Luật THADS năm 2014 là không có cơ sở.
3. Kiểm sát hồ sơ thi hành án về việc bảo quản tài sản thi hành án
- Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 58 Luật THADS năm 2014, việc bảo quản tài sản thi hành án được thực hiện bằng nhiều hình thức, trong đó có hình thức “Cá nhân có điều kiện bảo quản”, không quy định cá nhân phải thông qua tổ chức hoặc cá nhân đứng tên tổ chức có chức năng bảo vệ mới đủ điều kiện bảo quản tài sản thi hành án.
- Khoản 4 Điều 4 và khoản 6 Điều 8 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án chịu, trong đó có chi phí cho việc thuê trông coi, bảo quản tài sản và các chi phí cưỡng chế thi hành án trong đó có chi phí thuê trông coi, bảo quản tài sản được thực hiện căn cứ theo Hợp đồng, thanh lý Hợp đồng, hóa đơn, chứng từ chi tiêu thực tế, hợp pháp, hợp lệ theo quy định và được Thủ trưởng Cơ quan THADS phê duyệt.
- Việc ký Hợp đồng thuê bảo quản tài sản kê biên do Chấp hành viên ký hợp đồng, không do Cục THADS tỉnh B ký hợp đồng.
Do đó, VKSND tỉnh B ban hành Kết luận cho rằng Cục THADS tỉnh B ký hợp đồng riêng với ông Phùng Minh T bảo quản tài sản thi hành án là thực hiện chưa đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 58 Luật THADS năm 2014 là không có cơ sở.