Thông báo rút kinh nghiệm số 83/TB-VKS-V3 ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với bản án hành chính sơ thẩm về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai” bị cấp phúc thẩm sửa án

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 83/TB-VKS-V3 NGÀY 30/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI BẢN ÁN HÀNH CHÍNH SƠ THẨM VỀ VIỆC “KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI” BỊ CẤP PHÚC THẨM SỬA ÁN

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Trong vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá không đầy đủ, khách quan đối với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, cụ thể:

Tài liệu về hồ sơ địa chính qua các thời kỳ do UBND xã quản lý (hồ sơ 64/CP, hồ sơ đo đạc cấp GCNQSD đất năm 2008, hồ sơ cơ sở dữ liệu đất đai năm 2015 và hồ sơ bản đồ địa chính năm 2020) thể hiện diện tích đất 8.100m² mà Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 19257/QĐ-XPHC ngày 28/10/2021 xử phạt ông Đinh Văn T đối với hành vi chiếm đất chưa sử dụng, đều do UBND xã T quản lý. Diện tích đất này thuộc dự án đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Q chấp thuận chủ trương đầu tư năm 2018, UBND huyện T đã phê duyệt kế hoạch thu hồi để thực hiện dự án sửa chữa, nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá vào năm 2020 và ban hành Quyết định thu hồi đất vào năm 2022 (Quyết định số 7035/QĐ-UBND ngày 31/8/2022).

Tài liệu chứng minh nguồn gốc đất do người khởi kiện ông Đinh Văn T cung cấp, ngoài Giấy bán đất mắm và cây trồng lâu năm giữa cha mẹ ông Đinh Văn T nhận chuyển nhượng của người khác được Chủ tịch UBND xã T xác nhận ngày 15/6/1995, lời khai một số nhân chứng thì không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để xác thực, chứng minh về vị trí, tứ cận theo diện tích đất thể hiện trong Giấy chuyển nhượng và không có tài liệu nào khác để chứng minh cho việc sử dụng đất ổn định, liên tục; đồng thời, các tài liệu này có mâu thuẫn với tài liệu do Toà án sơ thẩm thu thập thể hiện việc kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) của ông Đinh V (cha ông Đinh Văn T) vào năm 2008 đối với diện tích đất ao nuôi trồng thủy sản liền kề, mâu thuẫn với tài liệu do UBND cung cấp về trích đo bản đồ địa chính 01- 2020 được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 09/3/2021 thể hiện diện tích 8.100m² thuộc loại đất bằng chưa sử dụng và mâu thuẫn với lời khai của nhân chứng là những người làm công tác địa chính, lãnh đạo UBND xã T và người sử dụng đất liền kề qua các thời kỳ. Mặt khác, nếu thực sự có việc sử dụng diện tích đất này trên thực tế để làm ao nuôi tôm, thì ông Đinh Văn T cũng không chứng minh được vì sao ông Đinh V (cha của ông) cũng như ông không thực hiện kê khai đối với diện tích đất này (theo diện tích thể hiện tại Giấy bán đất mắm và cây trồng lâu năm được Chủ tịch UBND xã T xác nhận ngày 15/6/1995) khi thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký cấp GCNQSD đất năm 2008 vì hai thửa đất này nằm sát cạnh nhau trên thực địa, cũng như bản đồ địa chính đã thể hiện. Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1995 đến khi bị lập biên bản vi phạm hành chính, ông Đinh V và ông Đinh Văn T không kê khai đăng ký, không được cấp GCNQSD đất.

Tài liệu về hồ sơ địa chính do UBND xã quản lý không thể hiện thông tin về việc thiết lập, quản lý và theo dõi biến động, thống kê theo Điều 13, Điều 32 và Điều 35 Luật Đất đai năm 1993, do đó việc xác nhận về việc chuyển nhượng trong Giấy bán đất mắm của Chủ tịch UBND xã T vào năm 1995 là không bảo đảm đúng quy định pháp luật đất đai vào thời điểm xác nhận và việc xác nhận gia đình ông Đinh V sử dụng ổn định, liên tục vào mục đích nuôi trồng thủy sản từ năm 1997 của một số nhân chứng là không có cơ sở. Như vậy, căn cứ vào khoản 6 Điều 12, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, Điều 20, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì trường hợp ông Đinh Văn T không đủ điều kiện để được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nói trên.

UBND xã T lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Đinh Văn T về hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng và việc Chủ tịch UBND huyện N Quyết định số 19257/QĐ-XPVPHC ngày 28/10/2021 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đinh Văn T là đúng quy định pháp luật tại điểm a khoản 2 Điều 3, điểm b khoản 2 và khoản 4 Điều 4, điểm d khoản 1 Điều 14, điểm b và điểm đ khoản 2 Điều 38 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Quyết định số 2487/QĐ-UBND ngày 29/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện N về việc giải quyết khiếu nại của ông Đinh Văn T là đúng quy định pháp luật.

Toà án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn T tuyên hủy các Quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện Núi Thành là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản, lợi ích Nhà nước.

Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Kiểm sát viên đã không phát hiện vi phạm của Toà án trong việc xem xét tài liệu, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, có phát biểu quan điểm đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có thiếu sót trong kiểm sát việc giải quyết vụ án. Vì vậy, trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, Kiểm sát viên cần chú trọng nghiên cứu, xem xét, đánh giá kỹ đối với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được Toà án thu thập theo pháp luật tố tụng hành chính, đối chiếu với pháp luật đất đai qua các thời kỳ để có quan điểm giải quyết đúng pháp luật, đồng thời thực hiện tốt quyền kiến nghị, kháng nghị theo quy định pháp luật.

Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trong khu vực nghiên cứu, tham khảo rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính.