Thông báo rút kinh nghiệm số 04/TB-VC2-V1 ngày 13/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án hình sự bị huỷ án để điều tra lại liên quan đến tội “Trộm cắp tài sản”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 04/TB-VC2-V1 NGÀY 13/12/2019 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN HÌNH SỰ BỊ HUỶ ÁN ĐỂ ĐIỀU TRA LẠI LIÊN QUAN ĐẾN TỘI “TRỘM CẮP TÀI SẢN”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
-Về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội: Tại Bản kết luận giám định số 222/GĐTP/2019 ngày 26/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Văn Danh trong bản thống kê tiền án, tiền sự số 405040/2018/PV06 ngày 11/12/2018 của Phòng hồ sơ công an tỉnh Khánh Hoà là cùng một người. Xác định chỉ bản của Nguyễn Văn Tiến hoàn toàn trùng khớp với chỉ bản của Nguyễn Văn Danh.
- Lý lịch người thực hiện hành vi phạm tội: Nguyễn Văn Danh, sinh năm 1982; Nơi ĐKMCTT: 35/5 Tân Phước, Phước Long, Nha Trang, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm cửa sắt; trình độ học vấn: 04/12; họ tên cha: Nguyễn Văn Cả (đã chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị Tòng, sinh năm 1927; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2016/HSST ngày 26/02/2016 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đóng án phí; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 3917 ngày 15/11/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa thời hạn 24 tháng; chấp hành xong ngày 11/02/2002; Bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 08/4/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án; Bản án hình sự phúc thẩm số 85 ngày 09/6/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt, chưa đóng án phí; Bản án hình sự sơ thẩm số 30 ngày 21/02/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt, đóng án phí ngày 23/7/2018.
- Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ duy nhất vào lời khai của người thực hiện hành vi phạm tội (không có giấy tờ tùy thân nào) để lập hồ sơ, lý lịch, lập danh chỉ bản mà không tiến hành điều tra, xác minh làm rõ về đặc điểm nhân thân người phạm tội. Khi tra cứu tiền án, tiền sự cũng chỉ căn cứ danh bản mang tên Nguyễn Văn Tiến (do đối tượng tự khai nhưng không đúng) mà không đối chiếu, tra cứu trên chỉ bản (không so sánh dấu vân tay) nên không phát hiện được chính xác họ tên thật người phạm tội.
Căn cứ Kết luận giám định như trên thì trong vụ án này, cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo có tên Nguyễn Văn Tiến là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, xác định không đúng nhân thân người phạm tội, chưa xác định chính xác chủ thể của tội pliạm. Lẽ ra bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử trong vụ án là Nguyễn Văn Danh, việc cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo có nhân thân, lý lịch với tên gọi Nguyễn Văn Tiến là không đúng.
- Hành vi khách quan của tội phạm; lợi đụng sự sơ hở của ông Lê Văn Điệp trong việc quản lý tài sản, hành vi lén lút mở tủ chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 6, trị giá 2.561.000 đồng của Nguyễn Văn Danh có dấu hiệu tội “Trộm cắp tài sản".
- Ngoài ra, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, người phạm tội khai nhận khi bị chủ sở hữu tài sản phát hiện bắt giữ thì sử dụng mũ bảo hiểm để đánh lại vào phần đầu của bị hại nhằm mục đích để chạy thoát thân (các bút lục 42, 43, 45, 47), các lời khai này phù hợp với lời khai của người bị hại (bút lục 36), đây là hành vi “hành hung để tẩu thoát” là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng chưa được điều tra làm rõ.
- Trong vụ án này, Nguyễn Văn Danh thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” khi chưa được xóa án tích, nhưng do cơ quan tiến hành tố tụng xác định không đúng nhân thân, lý lịch của người phạm tội, xác định không đúng chủ thể của tội phạm nên áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và điểm s “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và bỏ lọt tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52, chưa điều tra làm rõ hành vi “hành hung để tẩu thoát” để làm căn cứ truy tố, xét xử Nguyễn Văn Danh theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, từ đó quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, không phù hợp với nhân thân của người phạm tội.
Thông qua vụ án trên, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thấy cần thông báo để các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trong khu vực nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự./.