THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 113/TB-VKSTC NGÀY 12/5/2026 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO RÚT KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VỤ ÁN HÌNH SỰ TÒA ÁN XÉT XỬ KHÔNG ĐÚNG TỘI DANH

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Thời điểm ông Vũ Nhân Hưng giao xe ô tô cùng giấy tờ xe cho Vũ Huân Mạnh, Mạnh đã không còn là công nhân của Công ty Hưng Ngọc do hợp đồng lao động đã bị chấm dứt trước đó. Việc ông Hưng nhờ Mạnh hỗ trợ công việc chỉ mang tính chất cá nhân, xuất phát từ sự quen biết và tin tưởng giữa bác ruột với cháu ruột; giữa Mạnh và Công ty không phát sinh quan hệ lao động, không có thỏa thuận về công việc, tiền công, thời hạn làm việc hoặc giao nhiệm vụ chính thức.

Mạnh không phải là người có chức vụ, quyền hạn trong Công ty; đồng thời ông Hưng cũng không có căn cứ giao nhiệm vụ cho Mạnh theo “hình thức khác” quy định tại khoản 2 Điều 352 BLHS và khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Do đó, Mạnh không phải là chủ thể của tội “Tham ô tài sản” theo Điều 353 BLHS.

Mặt khác, việc giao xe cho Mạnh chỉ nhằm mục đích sử dụng để phục vụ công việc, Mạnh không được giao quyền quản lý hợp pháp đối với tài sản như quyền quyết định sử dụng, phân công, sửa chữa, cho thuê, thanh lý hoặc định đoạt tài sản. Sau khi được giao tài sản một cách hợp pháp và ngay thẳng, Mạnh đã lợi dụng sự tin tưởng của ông Hưng để bán xe, chiếm đoạt số tiền bán xe sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi của Mạnh có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Vì vậy, Cáo trạng của VKSND khu vực 1 - Hải Phòng truy tố bị can Vũ Huân Mạnh về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, việc TAND khu vực 1 - Hải Phòng xét xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” là không chính xác.

Từ vụ án trên, khi phân biệt tội “Tham ô tài sản” với các tội chiếm đoạt tài sản khác, cần đặc biệt chú ý làm rõ tư cách chủ thể của người thực hiện hành vi. Đối với tội “Tham ô tài sản", người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn và được giao quản lý tài sản theo quy định tại Điều 352 và Điều 353 BLHS. Trường hợp người thực hiện hành vi không còn quan hệ công tác, lao động hoặc không được giao nhiệm vụ, quyền hạn hợp pháp thì không thuộc chủ thể của tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời, nếu việc giao tài sản xuất phát từ quan hệ dân sự, sự quen biết, tin tưởng cá nhân hoặc thỏa thuận riêng thì cần thận trọng khi xem xét, định tội danh “Tham ô tài sản”.

Vụ 7 thông báo để VKSND các cấp nghiên cứu, định tội danh đối với các vụ án tương tự, qua đó tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự./.