Thủ tục đăng ký, thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Thủ tục đăng ký, thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu để mua bảo hiểm thì được biết mỗi sản phẩm đều có mức phí khác nhau và nghe nói doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí với cơ quan có thẩm quyền trước khi áp dụng. Tôi không hiểu việc đăng ký này được thực hiện như thế nào, doanh nghiệp phải chuẩn bị những hồ sơ gì, cơ quan nào tiếp nhận, thời gian giải quyết bao lâu và trong trường hợp muốn thay đổi cách tính phí thì có phải đăng ký lại hay không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!
MỤC LỤC
2. Thủ tục đăng ký, thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
1. Phí bảo hiểm là gì?
Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm, phí bảo hiểm là yếu tố cơ bản, thể hiện nghĩa vụ tài chính của bên mua bảo hiểm và là cơ sở để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp sự bảo vệ trước các rủi ro. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp xác định đúng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm. Do đó, khoản 28 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 giải thích như sau:
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
28. Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”
Theo đó, phí bảo hiểm có thể được hiểu là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Đây không chỉ là nghĩa vụ tài chính mà còn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện cam kết chi trả khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Việc xác định và thực hiện đúng nghĩa vụ đóng phí giúp bảo đảm quyền lợi của bên mua bảo hiểm và duy trì sự ổn định của hợp đồng. Đồng thời, phí bảo hiểm cũng góp phần hình thành nguồn tài chính chung để chi trả rủi ro. Qua đó, thể hiện vai trò quan trọng của phí bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Thủ tục đăng ký, thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm được thực hiện như thế nào?
Căn cứ tại Điều 32 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bởi khoản 1, 2 Điều 14 Nghị dịnh số 97/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2023/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 46/2023/NĐ-CP”) đã ghi nhận về thủ tục đăng ký, thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm như sau:
“Điều 32. Thủ tục đăng ký, thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đăng ký và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe trước khi triển khai.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải nộp Bộ Tài chính 01 bộ hồ sơ đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bao gồm các tài liệu sau:
a) Đơn đề nghị đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản tóm tắt các quyền lợi bảo hiểm và điều khoản loại trừ của sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai;
c) Tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bao gồm tối thiểu các thông tin về công thức, phương pháp và cơ sở tính phí bảo hiểm; các khoản phí tính cho khách hàng đối với sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí. Tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do.
4. Trường hợp thay đổi phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm hoặc thay đổi quy tắc, điều kiện, điều khoản của sản phẩm bảo hiểm làm ảnh hưởng tới phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nộp Bộ Tài chính 01 bộ hồ sơ đăng ký sửa đổi, bổ sung phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bao gồm các tài liệu sau:
a) Đơn đề nghị sửa đổi, bổ sung phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Tài liệu kỹ thuật giải trình các nội dung sửa đổi, bổ sung có xác nhận của chuyên gia tính toán.
5. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do.
6. Trong thời gian 02 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được tiếp tục triển khai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe đã được Bộ Tài chính phê chuẩn trước ngày Nghị định này có hiệu lực.
b) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được tiếp tục triển khai biểu phí của sản phẩm bảo hiểm sức khỏe có thời hạn bảo hiểm từ 01 năm trở xuống, sản phẩm bảo hiểm cho rủi ro tử vong có thời hạn bảo hiểm từ 01 năm trở xuống đã được Bộ Tài chính phê chuẩn trước ngày Nghị định này có hiệu lực, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe đã triển khai trước ngày 01 tháng 10 năm 2012, sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới đã được Bộ Tài chính chấp thuận đăng ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực.
c) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thực hiện rà soát và đăng ký lại phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới nhằm đảm bảo đáp ứng quy định của Bộ Tài chính. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới đã được Bộ Tài chính phê chuẩn, chấp thuận đăng ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực đã đáp ứng phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải thực hiện đăng ký lại phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm.”
Thứ nhất, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đăng ký và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe trước khi triển khai. Nội dung này giúp kiểm soát ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm, hạn chế việc xác định mức phí thiếu căn cứ hoặc không phản ánh đúng mức độ rủi ro. Qua đó, góp phần bảo đảm quyền lợi của khách hàng và khả năng thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm.
Để được xem xét chấp thuận, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải nộp Bộ Tài chính 01 bộ hồ sơ đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bao gồm các tài liệu sau:
- Đơn đề nghị đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP;
- Bản tóm tắt các quyền lợi bảo hiểm và điều khoản loại trừ của sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai;
- Tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bao gồm tối thiểu các thông tin về công thức, phương pháp và cơ sở tính phí bảo hiểm; các khoản phí tính cho khách hàng đối với sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí. Tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn.
Việc quy định rõ thành phần hồ sơ giúp cơ quan quản lý có đầy đủ thông tin để đánh giá tính hợp lý của sản phẩm. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc xây dựng và giải trình cơ sở hình thành mức phí.
Về thời hạn, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do. Cơ chế này vừa bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, vừa tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh và triển khai sản phẩm.
Thứ hai, nếu thay đổi phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm hoặc thay đổi quy tắc, điều kiện, điều khoản của sản phẩm bảo hiểm làm ảnh hưởng tới phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nộp Bộ Tài chính 01 bộ hồ sơ đăng ký sửa đổi, bổ sung phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bao gồm các tài liệu sau:
- Đơn đề nghị sửa đổi, bổ sung phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP;
- Tài liệu kỹ thuật giải trình các nội dung sửa đổi, bổ sung có xác nhận của chuyên gia tính toán.
Quy định này bảo đảm mọi thay đổi liên quan đến mức phí đều được kiểm soát chặt chẽ, tránh việc doanh nghiệp tự ý điều chỉnh theo hướng bất lợi cho khách hàng hoặc ảnh hưởng đến an toàn tài chính. Sự tham gia của chuyên gia tính toán giúp bảo đảm các thay đổi đều có cơ sở chuyên môn, phản ánh đúng mức độ rủi ro và đáp ứng yêu cầu an toàn tài chính của doanh nghiệp.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính có văn bản giải thích rõ lý do. Nội dung này duy trì sự giám sát liên tục của cơ quan quản lý đối với sản phẩm bảo hiểm trong suốt quá trình lưu hành, qua đó bảo đảm sự ổn định và minh bạch của thị trường.
Thứ ba, quy định pháp luật đã có cơ chế chuyển tiếp đối với các sản phẩm đã được phê chuẩn trước khi Nghị định số 46/2023/NĐ-CP có hiệu lực.
Cụ thể, trong thời gian 02 năm kể từ ngày Nghị định số 46/2023/NĐ-CP có hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được tiếp tục triển khai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe đã được Bộ Tài chính phê chuẩn trước ngày Nghị định số 46/2023/NĐ-CP có hiệu lực.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được tiếp tục triển khai biểu phí của sản phẩm bảo hiểm sức khỏe có thời hạn bảo hiểm từ 01 năm trở xuống, sản phẩm bảo hiểm cho rủi ro tử vong có thời hạn bảo hiểm từ 01 năm trở xuống đã được Bộ Tài chính phê chuẩn trước ngày Nghị định số 46/2023/NĐ-CP có hiệu lực, sản phẩm bảo hiểm sức khỏe đã triển khai trước ngày 01 tháng 10 năm 2012, sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới đã được Bộ Tài chính chấp thuận đăng ký trước ngày Nghị định số 46/2023/NĐ-CP có hiệu lực.
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thực hiện rà soát và đăng ký lại phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới nhằm đảm bảo đáp ứng quy định của Bộ Tài chính. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới đã được Bộ Tài chính phê chuẩn, chấp thuận đăng ký trước ngày Nghị định số 46/2023/NĐ-CP có hiệu lực đã đáp ứng phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải thực hiện đăng ký lại phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm.
Những quy định chuyển tiếp này cho thấy sự cân bằng giữa yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và việc bảo đảm tính ổn định của thị trường bảo hiểm. Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện thích ứng với các yêu cầu mới, trong khi quyền lợi của khách hàng vẫn được bảo đảm trong suốt quá trình chuyển đổi.
Như vậy, Điều 32 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP đã thiết lập một cơ chế quản lý tương đối toàn diện đối với việc xây dựng và điều chỉnh phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm. Từ khâu đăng ký ban đầu, xử lý các thay đổi phát sinh cho đến cơ chế chuyển tiếp đối với các sản phẩm đang lưu hành đều được thiết kế theo hướng minh bạch, chặt chẽ và có sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm và bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp mà còn góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường bảo hiểm.
Trân trọng./.