Phương pháp tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được xác định như thế nào?
Phương pháp tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được xác định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang định mua bảo hiểm nhân thọ cho bản thân và bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình, nhưng thấy mỗi công ty đưa ra mức phí rất khác nhau dù quyền lợi nghe có vẻ tương tự. Tôi băn khoăn không biết doanh nghiệp bảo hiểm dựa vào những yếu tố nào để tính phí, việc xác định phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (kể cả bảo hiểm vi mô) có phải tuân theo quy định của pháp luật hay doanh nghiệp được tự quyết, và có cơ chế nào để bảo đảm mức phí được tính toán hợp lý, minh bạch, tránh gây thiệt thòi cho người tham gia bảo hiểm hay không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe là gì?
Trả lời:
1. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe là gì?
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, việc xác định đúng loại hình bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp người tham gia bảo hiểm hiểu rõ phạm vi bảo vệ cũng như quyền lợi mà mình có thể được hưởng. Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm đã đưa ra những khái niệm cụ thể để phân biệt các loại hình bảo hiểm khác nhau. Trong đó, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe là hai loại hình bảo hiểm phổ biến, gắn liền trực tiếp với các rủi ro liên quan đến con người. Căn cứ theo khoản 13, 15 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 giải thích như sau:
"Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
13. Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.
....
15. Bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe.”
Theo đó, bảo hiểm nhân thọ có thể được hiểu là loại hình bảo hiểm dành cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Trong khi đó, bảo hiểm sức khỏe có thể được hiểu là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe.
Từ khái niệm nêu trên có thể thấy rằng, pháp luật đã xác định rõ nội hàm của bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các sản phẩm bảo hiểm trên thị trường. Việc hiểu rõ các khái niệm này giúp người dân có thể phân biệt đúng loại hình bảo hiểm, đồng thời lựa chọn sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nhu cầu bảo vệ tài chính và chăm sóc sức khỏe của bản thân cũng như gia đình.
2. Phương pháp tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được xác định như thế nào?
Về phương pháp tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, Điều 21 Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 67/2023/TT-BTC”) đã nêu rõ như sau:
“Điều 21. Phương pháp tính phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm vi mô) của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được chủ động trong việc sử dụng các phương pháp để tính toán phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm và các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm an toàn tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và phải tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm, đảm bảo được các quyền lợi đã cam kết với bên mua bảo hiểm;
b) Phí bảo hiểm và các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm phải bảo đảm tính hợp lý, công bằng với bên mua bảo hiểm;
c) Phí bảo hiểm phải được xác định dựa trên cơ sở tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và các đặc điểm khác của người được bảo hiểm, phù hợp với đặc trưng của từng sản phẩm. Trường hợp áp dụng một mức phí chung cho nhóm khách hàng tham gia bảo hiểm hoặc cho hợp đồng bảo hiểm nhóm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thể hiện rõ nguyên tắc, phương pháp xác định mức phí chung đó;
d) Trường hợp tăng, giảm phí bảo hiểm căn cứ trên quy mô nhóm, số tiền bảo hiểm hoặc thay đổi cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng, giảm các rủi ro bảo hiểm: phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm phải nêu rõ nguyên tắc, căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm sau khi giảm phải đảm bảo không thấp hơn phí bảo hiểm thuần của sản phẩm bảo hiểm. Trường hợp giảm phí bảo hiểm do bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả hoa hồng bảo hiểm cho đại lý bảo hiểm hoặc doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thì mức phí bảo hiểm được giảm tối đa không vượt quá tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm theo quy định tại Điều 51 và khoản 3 Điều 55 Thông tư này;
đ) Đối với các hợp đồng bảo hiểm sức khỏe nhóm có thời hạn 01 năm, được tái tục hàng năm, trường hợp điều chỉnh phí bảo hiểm dựa trên cơ sở tỷ lệ bồi thường thực tế của năm trước, mức điều chỉnh không được vượt quá 50% so với phí bảo hiểm năm trước đó.
2. Trong vòng 6 tháng kể từ ngày ký thông tư này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm thiết lập quy trình nội bộ về phát triển và tính phí sản phẩm bảo hiểm, trong đó thể hiện rõ các tiêu chí triển khai của từng dòng sản phẩm, quy trình đánh giá rủi ro và các phương pháp giảm thiểu rủi ro đối với từng dòng sản phẩm, quy trình dừng bán và tính phí lại sản phẩm. Quy trình nội bộ về phát triển và định phí sản phẩm phải được Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên) hoặc Tổng Giám đốc (Giám đốc) thông qua. Việc tuân thủ quy trình nội bộ về phát triển và định phí sản phẩm bảo hiểm phải được kiểm toán nội bộ xem xét định kỳ hàng năm.
3. Tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này (đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe) và Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này (đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài).”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được chủ động trong việc sử dụng các phương pháp để tính toán phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm và các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm an toàn tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và phải tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm, đảm bảo được các quyền lợi đã cam kết với bên mua bảo hiểm;
- Phí bảo hiểm và các khoản phí tính cho bên mua bảo hiểm phải bảo đảm tính hợp lý, công bằng với bên mua bảo hiểm;
- Phí bảo hiểm phải được xác định dựa trên cơ sở tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và các đặc điểm khác của người được bảo hiểm, phù hợp với đặc trưng của từng sản phẩm. Trường hợp áp dụng một mức phí chung cho nhóm khách hàng tham gia bảo hiểm hoặc cho hợp đồng bảo hiểm nhóm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thể hiện rõ nguyên tắc, phương pháp xác định mức phí chung đó;
- Trường hợp tăng, giảm phí bảo hiểm căn cứ trên quy mô nhóm, số tiền bảo hiểm hoặc thay đổi cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng, giảm các rủi ro bảo hiểm: phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm phải nêu rõ nguyên tắc, căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm sau khi giảm phải đảm bảo không thấp hơn phí bảo hiểm thuần của sản phẩm bảo hiểm. Trường hợp giảm phí bảo hiểm do bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả hoa hồng bảo hiểm cho đại lý bảo hiểm hoặc doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thì mức phí bảo hiểm được giảm tối đa không vượt quá tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm theo Điều 51 và khoản 3 Điều 55 Thông tư số 67/2023/TT-BTC;
- Đối với các hợp đồng bảo hiểm sức khỏe nhóm có thời hạn 01 năm, được tái tục hàng năm, trường hợp điều chỉnh phí bảo hiểm dựa trên cơ sở tỷ lệ bồi thường thực tế của năm trước, mức điều chỉnh không được vượt quá 50% so với phí bảo hiểm năm trước đó.
Những yêu cầu trên đã trao quyền chủ động cho doanh nghiệp bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong việc lựa chọn phương pháp tính phí bảo hiểm, nhưng đồng thời đặt ra những nguyên tắc và giới hạn pháp lý nhằm bảo đảm việc xác định phí được thực hiện trên cơ sở khoa học, khách quan và minh bạch. Các yêu cầu về số liệu thống kê, khả năng thanh toán, tính hợp lý, công bằng, tiêu chí xác định mức phí, nguyên tắc điều chỉnh phí và giới hạn điều chỉnh trong một số trường hợp đặc thù đã góp phần cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính và sự ổn định của thị trường bảo hiểm.
Bên cạnh đó, trong vòng 6 tháng kể từ ngày ký Thông tư số 67/2023/TT-BTC, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm thiết lập quy trình nội bộ về phát triển và tính phí sản phẩm bảo hiểm, trong đó thể hiện rõ các tiêu chí triển khai của từng dòng sản phẩm, quy trình đánh giá rủi ro và các phương pháp giảm thiểu rủi ro đối với từng dòng sản phẩm, quy trình dừng bán và tính phí lại sản phẩm. Quy trình nội bộ về phát triển và định phí sản phẩm phải được Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên) hoặc Tổng Giám đốc (Giám đốc) thông qua. Việc tuân thủ quy trình nội bộ về phát triển và định phí sản phẩm bảo hiểm phải được kiểm toán nội bộ xem xét định kỳ hàng năm.
Điều khoản này hướng đến việc chuẩn hóa công tác phát triển và định phí sản phẩm bảo hiểm thông qua việc yêu cầu doanh nghiệp xây dựng quy trình nội bộ về phát triển và tính phí sản phẩm. Đồng thời, việc quy trình này phải được cấp quản lý có thẩm quyền phê duyệt và được kiểm toán nội bộ rà soát định kỳ hằng năm góp phần tăng cường cơ chế kiểm soát nội bộ, nâng cao trách nhiệm quản trị và bảo đảm việc xây dựng, điều chỉnh phí bảo hiểm luôn tuân thủ đúng quy trình đã được thiết lập.
Ngoài ra, tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm phải tuân theo mẫu tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 67/2023/TT-BTC (đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe) và Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 67/2023/TT-BTC (đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài) nhằm thống nhất hình thức và nội dung của tài liệu giải trình phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm thông qua việc áp dụng các biểu mẫu do Bộ Tài chính ban hành. Điều này giúp doanh nghiệp thực hiện việc giải trình một cách đầy đủ, thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý trong quá trình thẩm định, kiểm tra và giám sát, đồng thời nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp bảo hiểm.
Vậy là, điều luật trên đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện về việc xây dựng, quản lý và kiểm soát phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm. Bên cạnh việc trao quyền chủ động cho doanh nghiệp trong hoạt động định phí, pháp luật còn đặt ra các yêu cầu về tính khoa học, minh bạch, công bằng và an toàn tài chính, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp xây dựng quy trình quản trị nội bộ và chịu sự giám sát của kiểm toán nội bộ cũng như cơ quan quản lý nhà nước. Những nội dung này không chỉ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm mà còn nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, minh bạch và bền vững.
Trân trọng./.