THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 96/TB-VC2-V2 NGÀY 24/9/2021 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ, HÔN NHÂN GIA ĐÌNH BỊ HỦY, SỬA 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Vi phạm về thủ tục tố tụng 

1.1. Không đưa đầy đủ đương sự vào tham gia tố tụng 

Điển hình vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo nội dung vụ án, bà Lê Thị Lâu được thừa hưởng di sản của cụ Lê Văn Hiệp và cụ Trương Thị Ý là 1/3 căn nhà với diện tích 57,2m, nhà gắn với 131,84m đất và toàn bộ cái giếng ở bên phải của khối nhà 59 Nguyễn Thái Học. Bà Lê Thị lâu ở nước ngoài nên ông Lê Bá Dũng tự ý chiếm dụng nhà ở nói trên. Bà Lâu chết ngày 01/12/2004, những người con của bà Lâu ở nước ngoài không có điều kiện quản lý sử dụng, nên ngày 06/10/2017 ông Phạm Tấn Dũng (con ông Phạm Tấn Minh, chết năm 1980 là con của bà Lê Thị Lâu) làm đơn khởi kiện kèm giấy ủy quyền của ông Phạm Thông, ông Phạm Văn Luận, bà Phạm Thị Hiền, ông Phạm Văn Trí, bà Phạm Thị Huệ. Văn bản ủy quyền được chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự ngày 21/6/2017 tại Đại sứ quán Việt Nam tại Canada nên Tòa án nhân dân tỉnh thụ lý giải quyết vụ án. 

Tuy nhiên, tại Văn của Công an cung cấp ngày 21/12/2020, thể hiện: “Theo bản khai nhân khẩu của hộ ông Phạm Điệu và bà Lê Thị Lâu, khai ngày 06/10/1976 ông bà có 11 người con.”. Trong khi văn bản ủy quyền chỉ có 06 người nêu trên còn lại 05 người là ông Phạm Sáng, ông Phạm Văn Lộc, bà Phạm Thị Lý, ông Phạm Thọ và ông Phạm Phước chưa thể hiện đã ủy quyền cho nguyên đơn khởi kiện, do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh thụ lý giải quyết là vi phạm khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 

Bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy để giải quyết lại. 

1.2. Không thực hiện việc yêu cầu nộp tiền tạm ứng án phí tiến hành thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 

Điển hình vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Lê Minh Chính và bị đơn ông Đặng Văn Lưu. Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, ngày 25/5/2019 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung Khánh có “Đơn yêu cầu độc lập” yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Hữu Ái, bà Nguyễn Thị Ngọc Lại với ông Lê Minh Chính do Ủy ban nhân dân xã chứng thực ngày 31/12/2009, số chứng thực 52, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐGD nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc yêu cầu nộp tạm ứng án phí và tiến hành thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 73, Điều 201, Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự. 

1.3. Vi phạm về hình thức và nội dung đơn khởi kiện 

Điển hình vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế”. Bà Nguyễn Thị Quyệt có đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện tuyên bố bản di chúc của chị Trần Thị Ngọc Ánh lập ngày 03/5/2012 về việc để lại nhà đất, đất tại thửa đất số 27, diện tích 159m2 cho anh Trần Văn Tài là vô hiệu; đồng thời, chia di sản là nhà, đất của con gái là Trần Thị Ngọc Ánh, cho Bà được hưởng toàn bộ di sản. Đơn khởi kiện của bà Quyệt không có người làm chứng. 

Ngày 01/8/2018, bà Quyệt có đơn khởi kiện bổ sung, chỉ bổ sung thêm một số thông tin liên quan đến nhà đất nhưng cũng không có người làm chứng ký vào đơn. 

Ngày 20/01/2020, bà Quyệt gửi đơn xin rút đơn khởi kiện. ngày 05/02/2020, Thẩm phán lập biên bản ghi lời khai của bà Quyệt. Bà Quyệt trình bày, Bà vẫn yêu cầu chia di sản thừa kế của con gái. 

Ngày 20/11/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận đơn của bà Nguyễn Thị Quyệt xin rút lại toàn bộ đơn khởi kiện (đơn có người làm chứng ký). 

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên hỏi, bà Quyệt cho rằng dấu điểm chỉ trong các đơn khởi kiện và đơn rút lại yêu cầu khởi kiện không phải của Bà. 

Bà Nguyễn Thị Quyệt, sinh năm 1933 (đến thời điểm khởi kiện năm 2018 là 85 tuổi), không biết chữ, không thể hiện được ý chí của mình trong việc khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của con gái và đơn xin rút đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện của bà Quyệt không có người làm chứng là chưa đảm bảo về hình thức và nội dung đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì vậy, cấp phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm để giải quyết lại. 

1.4. Đình chỉ giải quyết vụ án không đúng 

Điển hình vụ án “Tranh chấp ly hôn nuôi con chung”. Tại Đơn xin ly hôn ngày 04/9/2019 của ông Lê Quang Bích thể hiện bà Đào Thị Tuyết hiện cư trú tại lãnh thổ Đài Loan, tuy nhiên tại Thông báo thụ lý vụ án số 09/TB-TA ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh, thể hiện bà Đào Thị Tuyết, hiện đang cư trú tại số 42 MAT, BAN-SAN, PARIMAT, Cộng Hòa Pháp. 

Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-DS ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh thể hiện bà Đào Thị Tuyết cư trú tại địa chỉ 42 MAT, BAN -SAN, PAR1 MAT, Cộng Hòa Pháp. 

Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc ủy thác Tư pháp đối với địa chỉ 42 MAT, BAN-SAN, PARIMAT, Cộng Hòa Pháp theo quy định và vụ án đã mở phiên tòa nhiều lần nhưng phải hoãn xét xử do vắng mặt bị đơn. 

Ngày 23/9/2020, Hội đồng xét xử sơ ra Quyết định tạm ngưng phiên tòa với lý do cần xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ mà không thực hiện được tại phiên tòa, nhưng sau đó không thu thập, bổ sung được tài liệu, chứng cứ nào. 

Ngày 01/02/2021, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định tạm đình chỉ vụ án vì lý do “...Ngày 04/01/2021, bị đơn chị Đào Thị Tuyết đang ở Đài Loan có đơn trình bày ý kiến về việc anh Lê Quang Bích yêu cầu ly hôn với Chị và yêu cầu giải quyết về con chung, nhưng đơn trình bày của chị Tuyết chưa được hợp pháp hóa Lãnh sự theo quy định của pháp luật. Hơn nữa chị Tuyết trình bày chưa thể về Việt Nam để tham gia tố tụng do dịch bệnh Covid 19...”. Tại Quyết định tạm đình chỉ này xác định bà Đào Thị Tuyết hiện đang cư trú tại No.68 Gongming Rd. East. Chia Yi Cty 600, Tai Wan. 

Xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đều xác định bà Đào Thị Tuyết cư trú tại: 42 MAT, BAN -SAN, PARIMAT, Cộng Hòa Pháp. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 01/02/2021, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định lại địa chỉ cư trú của bà Đào Thị Tuyết là: No.68 Gongming Rd. East. Chia Yi Cty 600, Tai Wan; đồng thời Tòa án cho rằng, đơn trình bày của bà Đào Thị Tuyết chưa được hợp pháp hóa lãnh sự. Do vậy, Hội đồng xét xử đã tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án là không đúng với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện việc ủy thác tư pháp và thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với bà Đào Thị Tuyết theo địa chỉ mới, sau đó nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà chưa có kết quả thì mới căn cứ vào điểm khoản 1, Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự để ra quyết định tạm đình chỉ vụ án. 

Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đơn của bà Tuyết chưa được hợp pháp hóa lãnh sự nhưng không thực hiện các biện pháp tố tụng mà đã ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án là không đúng pháp luật. 

2. Vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ 

2.1. Đánh giá chứng cứ không khách quan gây thiệt hại cho đương sự 

Điển hình vụ án: “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa nguyên đơn bà Tướng Thị Minh với bị đơn ông Nguyễn Tường Công và bà Đinh Thị Lệ Hằng. 

Nội dung vụ án: Năm 1964, khi bà Tướng Thị Minh kết hôn với ông Nguyễn Tường Hưng và về ở trong căn nhà trên thửa đất của cha mẹ chồng là cụ Nguyễn Tường Trưng, cụ Nguyễn Thị Lại. Cụ Lại và cụ Trưng có 09 người con, trong đó 04 người chết khi còn nhỏ, còn lại 05 người. Cụ Lại chết năm 1971, cụ Trưng chết năm 1982. Quá trình quản lý, sử dụng đất hai cụ không tặng cho bất kỳ người nào, khi chết không đế lại di chúc. 

Ngày 24/02/2005, bà Minh và ông Hưng kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 230080, thửa số 56B, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa số 19, tờ bản đồ số 78), diện tích 845 m (viết tắt là thửa đất số 56B). 

Ngày 12/8/2012, bà Minh và ông Hưng chuyển nhượng một phần thửa đất cho ông Trương Văn Thành, bà Nguyễn Thị Bích Phượng. Ngày 06/9/2012, ông Thành, bà Phượng được Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL456472, thửa đất số 56C, tờ bản đồ số 10, diện tích 206 m; cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 456473, thửa số 56B, tờ bản đồ số 10, diện tích 639 m cho ông Hưng và bà Minh. 

Trên thửa đất đang tranh chấp có căn nhà do các con của cụ Trưng, cụ Lại góp tiền xây dựng (nay là nhà Từ đường do ông Nguyễn Tường Công là cháu nội của cụ Trưng, cụ Lại đang ở). 

Bà Minh khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tường Công, bà Đinh Thị Lệ Hằng phải trả lại cho Bà ngôi nhà xây dựng năm 1984 và diện tích đất 639m đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cho vợ chồng Bà. 

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tướng Thị Minh. Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Minh. 

Vấn đề cần rút kinh nghiệm 

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Căn cứ vào tài liệu do các bên đương sự cung cấp và “Giấy xác nhận” của các nhân chứng là những người cao tuổi sống lâu năm tại địa phương đều xác nhận: “...Nhà, đất tại địa chỉ 95 Đào Duy Từ là của cụ Nguyễn Tường Trung và cụ Nguyễn Thị Lại đã có từ năm 1933 đến nay...”

Tại Sổ mục kê ruộng đất lập năm 1982 của Hợp tác xã nông nghiệp, tên chủ sử dụng đất ghi cụ Nguyễn Tường Trưng sử dụng thửa đất số 155, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.321 m, loại đất T. 

Theo tờ Bản đồ số 10 lập năm 1996 và tại Sổ mục kê đất lập năm 1997, thửa đất số 56B, tờ bản đồ số 10, diện tích 845 m, ghi tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Tường Kiết (con thứ nhất của cụ Trưng và cụ Lại), chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

Ngày 15/6/2004, ông Hưng và bà Minh có “Đơn xin hợp lệ về đất ở” đối với ngôi nhà số 95. Phần kê khai nguồn gốc thửa đất, ông Hưng, kê khai: “Nguồn gốc thửa đất ông cha đế lại. Thời điểm bắt đầu sử dụng từ năm 1945 cho đến nay không ai tranh chấp...”. Tại Tờ khai xác định mốc thời gian sử dụng đất cùng đề ngày 15/6/2004, ông Hưng cũng khai: “Nguồn gốc đất sử dụng ông cha để lại...”. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hưng được Ủy ban nhân dân thị trấn xác nhận và đã được Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 2088/QĐ-UB ngày 10/12/2004 công nhận hợp thức hóa đất cho hộ ông Nguyễn Tường Hưng; ngày 24/02/2005 Ủy ban nhân dân huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tường Hưng và bà Tướng Thị Minh đối với thửa đất số 56B nêu trên. 

Tại Văn bản số 19/UBND ngày 23/6/2020, Ủy ban nhân dân phường, xác định: “...Thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 thửa đất 56B, tờ bản đồ số 10 không giao quyền cho tổ chức, cá nhân nào...”. 

Như vậy, quyền sử dụng thửa đất số 56B, diện tích 845 m mà Ủy ban nhân dân huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/02/2005 cho ông Hưng và bà Minh có nguồn gốc của cha mẹ ông Hưng để lại. Quyền sử dụng thửa đất số 56B, diện tích 845 m2 vẫn là tài sản chung chưa chia của những người thừa kế của cụ Trưng, cụ Lại. 

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tướng Thị Minh, buộc bị đơn ông Nguyễn Tường Công, bà Đinh Thị Lệ Hằng phải trả lại toàn bộ thửa đất số 56B cho bà Minh là không phù hợp với thực tế khách quan của vụ việc và không đúng pháp luật. 

+ Về tài sản gắn liền với thửa đất có tranh chấp: Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 23/4/2019 của Tòa án cấp sơ thẩm, thể hiện trên thửa đất tranh chấp có 02 ngôi nhà: 01 ngôi nhà 01 tầng được xây dựng vào năm 2014, diện tích 89 m ; 01 ngôi nhà 01 tầng được xây dựng vào năm 1984, sửa chữa lại năm 2014, diện tích 35,4 m; ngoài ra còn có cây cối, tường rào, cổng và một số công trình phụ trợ khác. 

- Đối với ngôi nhà 01 tầng xây dựng vào năm 2014 có diện tích 89 m”: Bà Minh thừa nhận, ngôi nhà này do bà Hằng và ông Công xây dựng, nên không phải là tài sản của bà Minh. 

- Đối với ngôi nhà 01 tầng được xây dựng vào năm 1984, sửa chữa lại năm 2014 (hiện nay là phòng thờ) có diện tích 35,4 m”: Bà Minh cho rằng, ngôi nhà này được vợ chồng Bà xây dựng năm 1984. Tuy nhiên, phía bị đơn cho rằng, nhà do các con của cụ Trưng và cụ Lại cùng đóng góp để xây dựng, vợ chồng bà Minh chỉ là người đứng ra tổ chức việc xây dựng. 

Như vậy, có đủ cơ sở xác định ngôi nhà xây dựng năm 1984, sửa chữa năm 2013 là do những người con và cháu của cụ Trưng, cụ Lại cùng góp tiền xây dựng, sửa chữa đế làm nhà thờ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ngôi nhà xây dựng năm 1984 là do vợ chồng ông Hưng, bà Minh xây dựng, thuộc sở hữu của vợ chồng ông Hưng, bà Minh là không chính xác. 

2.2.Chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ 

Điển hình vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Lê Minh Chính và bị đơn ông Đặng Văn Lưu

- Nội dung vụ án: Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp trước đây của ông Đỗ Hữu Ái, bà Nguyễn Thị Ngọc Lại. Năm 2002, ông Ái, bà Lại đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trần Văn Hiệp và bà Phạm Thị Minh Đoan. Sau đó ông Hiệp và bà Đoan tiếp tục chuyển nhượng lại một phần thửa đất cho vợ chồng ông Lê Minh Chính, bà Phạm Thị Thùy Mỹ, diện tích là 1.624m. 

Các bên chuyển nhượng cho nhau đều bằng giấy viết tay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông Đỗ Hữu Ái và bà Nguyễn Thị Ngọc Lại. 

Năm 2009, ông Ái, bà Lại lập Hợp đồng chuyển nhượng cho ông Chính, bà Mỹ đúng với phần đất ông Chính, bà Mỹ đã thỏa thuận mua lại của ông Hiệp, bà Đoan. Cụ thể là thửa đất số 37, số 38 và một phần thửa đất số 25, tờ bản đồ số 27, diện tích là 1.624 m. Hợp đồng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã chứng thực ngày 31/12/2009. 

Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hiệp, bà Đoan, năm 2002, ông Chính đã xây trại nuôi tôm giống và thuê ông Đặng Văn Lưu làm kỹ thuật tại trại từ năm 2002 đến năm 2004. Sau đó ông Chính không nuôi tôm giống nữa, nên ông Lưu xin cho em trai là ông Đặng Xuân Chung vào ở nhờ. 

Trong thời gian ở nhờ, ông Chung đã cơi nới thêm 02 phòng ngủ trên trại tôm của ông chính và đập bỏ hàng rào do ông Chính xây. 

Sau đó, ông Chính được biết ông Lưu đã làm thủ tục đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của Ông và đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung Khánh. 

Ông Lê Minh Chính khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Ông Đặng Văn Lưu trả quyền thửa đất mà Ông nhận chuyển nhượng của ông Ái, bà Lại (nay là thửa đất số 77, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.177m); hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đứng tên ông Đặng Văn Lưu. 

Bị đơn ông Đặng Văn Lưu, bà Nguyễn Thị Như Nguyệt cho rằng, năm 2001, ông Lưu mua của ông Đỗ Hữu Ái lô đất trên. Vì đất chưa có sổ đỏ nên ông Ái và ông Lưu chỉ mua bán bằng giấy viết tay, hai bên đã giao nhận đất và tiền theo thỏa thuận, trên đất không có tài sản gì. Sau khi mua đất, ông Đặng Văn Lưu đã dựng một căn nhà tạm để giữ đất, xây trại nuôi tôm giống và cho gia đình ông Đặng Xuân Chung ở để trông coi trại tôm. 

Năm 2016, ông Lưu và ông Ái đã làm thủ tục tách sổ và ký Hợp đồng chuyển nhượng, Ủy ban nhân dân Thị xã đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn Lưu ngày 15/08/2016, 

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh Chính. Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án. 

Vấn đề cần rút kinh nghiệm 

- Về thủ tục tố tụng: Ngày 25/5/2019, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung Khánh có Đơn yêu cầu độc lập. Ông Khánh yêu cầu Toà án huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Hữu Ái, bà Nguyễn Thị Ngọc Lại với ông Lê Minh Chính, nhưng Toà án không yêu cầu đương sự nộp tạm ứng án phí và thụ lý yêu cầu độc lập là vi phạm thủ tục tố tụng. 

- Hồ sơ vụ án có 03 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, gồm: Hợp đồng giữa hộ ông Ái, bà Lại với ông Chính; Hợp đồng giữa hộ ông Ái, bà Lại với ông Lưu; Hợp đồng giữa ông Lưu với ông Nguyễn Trung Khánh. Nhưng Toà án cấp sơ thẩm chưa làm rõ diện tích đất ông Ái, bà Lại chuyển nhượng cho ông Chính có bằng diện tích đất trước đây ông Hiệp, bà Đoan chuyển nhượng cho ông Chính hay không? Vì ông Hiệp, bà Đoan chỉ khai theo trí nhớ là chuyển nhượng 2 sào đất. Bên cạnh đó, Toà án cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ diện tích đất ông Ái, bà Lại chuyển nhượng cho ông Lưu có phải là diện tích đất mà ông Ái, bà Lại chuyển nhượng cho ông Chính hay không? Vì năm 2009, ông Ái, bà Lại chuyển nhượng cho ông Chính thửa số 37, 38 và một phần thửa số 25, cùng tờ bản đồ số 27 với tổng diện tích là 1.624m. Đến năm 2016, ông Ái, bà Lại chuyển nhượng cho ông Lưu thửa số 77, tờ bản đồ số 27, với diện tích 1.177m. Diện tích đất giữa các lần chuyển nhượng không giống nhau nhưng chưa được làm rõ. 

- Đối với tài sản trên đất: Ông Lê Minh Chính trình bày: “...Sau khi nhận chuyển nhượng Tôi xây dựng một trại nuôi tôm giống, gồm 60 hồ bê tông để nuôi thuỷ sản, một khu nhà ở cho công nhân, tường gạch, mái lợp tôn, trụ bê tông, sân xi măng... tổng giá trị khoảng 01 tỷ đồng...”. Ông Đặng Xuân Chung khai: “...Tôi chỉ là người thuê đất và sinh sống trên đó, khi Tôi thuê trại để nuôi trồng thuỷ sản và trông coi miếng đất, trên đất đã có sẵn hồ trại, tôi thuê chỉ nuôi trồng trên kiến trúc có sẵn, hàng năm chỉ sửa chữa những chỗ hư hỏng”. 

Tại Biên bản xác minh của Toà án cấp sơ thẩm thể hiện: “...hiện nay gia đình ông Đặng Xuân Chung đang quản lý sử dụng diện tích đất 1.177m mà Ủy ban nhân dân thị xã cấp cho ông Đặng Văn Lưu ngày 15/8/2016...”. 

Như vậy, trên diện tích đất đang tranh chấp có tài sản nhưng Toà án cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ mà chỉ đo vẽ hiện trạng theo sự chỉ dẫn của các bên đương sự. Việc xem xét thẩm định của Toà án không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự. 

- Về bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 có yêu cầu độc lập: Ông Đặng Văn Lưu đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trung Khánh, nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông Đặng Văn Lưu, và ông Chung, bà Hà, bà Hương, cháu Lâm và ông Khánh) phải trả lại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.177m, nhà và các công trình khác gắn liền với đất cho ông Lê Minh Chính và bà Phạm Thị Thuỳ Mỹ, mà không điều tra làm rõ ông Đặng Văn Lưu đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trung Khánh như thế nào để bảo vệ quyền lợi người thứ 3 ngay tình. 

- Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Toà án cấp sơ thẩm tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lưu và ông Khánh vô hiệu, nhưng không xem xét, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp phúc thẩm đã huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại./.