Thông báo rút kinh nghiệm số 03/TB-VC2-V4 ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 03/TB-VC2-V4 NGÀY 26/12/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI VỀ "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG"
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Đối với nội dung yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng V có yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với nội dung yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do đã hết thời hiệu 03 năm.
Theo hợp đồng thì khoản vay của Công ty X được bảo đảm theo Hợp đồng bảo lãnh vay vốn số 02/2009/NHPT.QBI-BLDA ngày 26/5/2009 và Chứng thư bảo lãnh số 03/NHPT.QBI-CTBL ngày 26/5/2009 của Ngân hàng V.
Do đó, trong trường hợp Công ty X không trả được nợ với số tiền tính đến ngày 24/01/2022 là 3.050.491.396 đồng (trong đó, nợ gốc là 910.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 323.941.668 đồng, lãi trên gốc quá hạn là 1.816.549.728 đồng) thì Ngân hàng V có nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công Ty X số tiền nói trên.
Tuy nhiên, Ngân hàng V không đồng ý thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với lý do: Tại Biên bản làm việc ngày 30/5/2017, giữa Ngân hàng V với Ngân hàng Đ và Công văn số 164/NHPT.QBI-TD ngày 14/4/2017 về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Dự án Nhà máy Cơ khí tổng hợp, Ngân hàng V đã từ chối nghĩa vụ bảo lãnh đối với phần gốc và lãi liên quan đến hạng mục xe ô tô tải cẩu do Công ty X không bàn giao tài sản theo thỏa thuận. Tiếp theo đó, vào ngày 03/7/2018, 21/8/2019, ngày 09/3/2020 Ngân hàng V có Công văn số 256/NHPT.QBI-TD, 78/NHPT.QBI-TD, 256/NHPT.QBI-TD từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nói trên và yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nội dung buộc Ngân hàng V thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản vay của Công ty X.
Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã không đánh giá hết tài liệu, chứng cứ, cụ thể: Căn cứ vào biên bản làm việc ngày 26/6/2017 và các Công văn số 273/NHPT.QBI-TD ngày 29/6/2017; Công văn số 356/NHPT.QBI-TD ngày 08/9/2017; Công văn số 52/NHPT.QBI-TD ngày 26/01/2018 thì Ngân hàng V vẫn có quan điểm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản vay của Công ty X. Tuy nhiên, ngày 03/7/2018, Ngân hàng V có Công văn số 256/NHPT.QBI-TD từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với dư nợ gốc là 910.000.000 đồng và lãi phát sinh liên quan đến hạng mục xe tải cẩu và nội dung này được Ngân hàng V -Chi nhánh B tiếp tục trình bày tại Công văn số 302/NHPT.QBI-TD ngày 24/8/2018.
Căn cứ quy định Điều 157 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện (3 năm) được bắt đầu lại tính từ ngày 04/7/2018 (sau ngày Ngân hàng V ban hành Công văn số 256/NHPT.QBI-TD từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh) đến ngày 04/7/2021. Do đó, ngày 23/9/2020, Ngân hàng Đ khởi kiện yêu cầu Ngân hàng V thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là trong thời hiệu khởi kiện.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng V đối với số đến hạng tiền dư nợ gốc 910.000.000 đồng, cùng toàn bộ lãi phát sinh liên quan mục này đã hết và không xem xét yêu cầu của Ngân hàng Đ về việc buộc Ngân hàng V thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Đ.
Trên đây là những vi phạm của Tòa án nhân dân thành phố H, Tòa án nhân dân tỉnh Q trong việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nêu trên. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các địa phương khu vực Miền Trung -Tây Nguyên cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tương tự./.