THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 14/TB-VC2-V3 NGÀY 19/02/2019 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG” BỊ ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG HỦY ĐỂ GIẢI QUYẾT LẠI

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Tính hợp pháp của các Hợp đồng thế chấp: Khoản vay của Công ty Phước Thiện tại Quỹ Đầu tư phát triển Đắk Lắk được bảo đảm bởi 03 tài sản thế chấp, cụ thể:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 139, tờ bản đồ số 50 tại phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk được Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 597387 cấp ngày 19/10/2007 đứng tên ông Nguyễn Trọng Đăng Khoa, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 01/HĐTC ngày 22/10/2007, chứng thực ngày 23/10/2007, người thế chấp ký tên là Nguyễn Trọng Đăng Khoa.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 434a, tờ bản đồ số 17 tại thị trấn Phước An, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk được Ủy ban nhân dân huyện Krông Pắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 346164 cấp ngày 05/10/2004 đứng tên hộ ông Nguyễn Trọng Đăng Khoa, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 01/2008/HĐTCTS ngày 28/01/2008, chứng thực ngày 30/01/2008, người thế chấp ký tên là Nguyễn Trọng Đăng Khoa.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 153, tờ bản đồ số 08 tại 127 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Thành Công, thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk được Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 800746 cấp ngày 29/6/2006 đứng tên hộ ông Nguyễn Minh, bà Trần Thị Mai, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 02/HĐTC ngày 29/10/2007, chứng thực ngày 02/11/2007, người thế chấp ký tên là ông Nguyễn Minh và bà Trần Thị Mai.

Như vậy, trong 03 tài sản thế chấp nêu trên thì có 02 tài sản thế chấp được cấp cho hộ gia đình, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ, mỗi hộ gia đình gồm những thành viên nào, mỗi người có hay không quyền tài sản (quyền sử dụng đối với diện tích đất cấp cho hộ gia đình trên); từ đó xem xét tính hợp pháp của các hợp đồng thế chấp mà nhận định rằng, việc thế chấp trên là hợp pháp và quyết định xử lý các tài sản thế chấp trên là không đủ căn cứ.

2. Việc xử lý tài sản thế chấp của ông Nguyễn Minh và bà Trần Thị Mai:

Ngày 02/11/2007, ông Nguyễn Minh và bà Trần Thị Mai đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 153, tờ bản đồ số 08 tại 127 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Thành Công, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk được cấp cho hộ gia đình thế chấp cho Quỹ Đầu tư phát triển Đắk Lắk để bảo đảm cho một phần khoản vay của Công ty Phước Thiện. Tuy nhiên, tại thời điểm giải quyết vụ án ông Minh và bà Mai đều đã chết. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh và thông báo tìm kiếm hàng thừa kế của ông Minh, bả Mai đề đưa họ vào tham gia tố tụng, nhưng không có kết quả nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tách phần tài sản thế chấp của hộ ông Minh, bà Mai ra để giải quyết bằng vụ án khác là có cơ sở. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn quyết định cho phát mãi tài sản của hộ ông Minh, bà Mai (trong trường hợp các tài sản khác không đủ để thi hành án) là mâu thuẫn trong việc xử lý tài sản thế chấp và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế của ông Minh, bà Mai.

Trên đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” có vi phạm pháp luật bị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật để giải quyết lại. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trong khu vực nghiên cứu, rút kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt hơn công tác kiểm sát việc giải quyết án kinh doanh thương mại./.