THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 06/TB-VC3-V4 NGÀY 07/3/2018 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BỊ CẤP PHÚC THẨM HỦY NĂM 2017

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Vi phạm thủ tục tố tụng do không xác định được vụ hay việc kinh doanh, thương mại

Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (Bộ luật TTDS năm 2015) quy định đương sự có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ án dân sự và quyền yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc dân sự.

Vụ án dân sự là các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Dấu hiệu pháp lý quan trọng nhất để xác định vụ án dân sự là yếu tố có tranh chấp; Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Đây là việc riêng của cá nhân, tổ chức, không có Nguyên đơn, Bị đơn, chỉ có Người yêu cầu (Điều 361 Bộ luật TTDS năm 2015). Xác định không đúng việc dân sự và vụ án dân sự dẫn đến áp dụng không đúng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự.

Trong vụ “Tranh chấp giữa thành viên công ty”, nguyên đơn bà Lê Hoàng Diệp Thảo với bị đơn ông Đặng Lê Nguyên Vũ: Nguyên đơn bà Thảo là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Cà phê hòa tan Trung Nguyên (gọi tắt là Công ty) khởi kiện ông Đặng Lê Nguyên Vũ là cổ đông sáng lập chiếm 10% tỷ lệ vốn góp và là thành viên Hội đồng quản trị, yêu cầu hủy các Nghị quyết của Hội đồng quản trị Công ty. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xác định đây là vụ án tranh chấp “Giữa các thành viên công ty với nhau” là không đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 31 và Điều 361 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định nguyên đơn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng quản trị thuộc trường hợp “yêu cầu về kinh doanh, thương mại” là việc dân sự chứ không phải “tranh chấp về kinh doanh, thương mại”.

2. Vi phạm do xác định sai tư cách người tham gia tố tụng; không đưa đầy đủ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng

- Tại Chương VI Bộ luật TTDS năm 2015 quy định về người tham gia tố tụng, trong đó quy định rõ về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; quyền và nghĩa vụ của đương sự. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều trường hợp Tòa án có sai sót trong việc xác định tư cách đương sự và không đưa đầy đủ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng. Những sai sót này hay xảy ra và đã được rút kinh nghiệm nhiều lần nhưng hiệu quả vẫn còn hạn chế.

Như vụ việc dẫn chứng trên, Nghị quyết mà nguyên đơn bà Lê Hoàng Diệp Thảo yêu cầu hủy bỏ là do Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Cà phê hòa tan Trung Nguyên ban hành chứ không phải cá nhân ông Đặng Lê Nguyên Vũ ban hành, lẽ ra phải xác định Công ty Cổ phần Cà phê hòa tan Trung Nguyên là bị đơn nhưng Tòa án tỉnh Bình Dương xác định ông Đặng Lê Nguyên Vũ là bị đơn trong vụ án là không đúng quy định của pháp luật.

Tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan."

Tòa án giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự, nhưng lại không đưa họ tham gia tố tụng hoặc đưa không đầy đủ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Thiếu sót này thường gặp ở các vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất... Cụ thể như:

Vụ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Quốc Dân, bị đơn là ông Nguyễn Hồng Tâm - Chủ DNTN Hồng Tâm. Bản án sơ thẩm số 03/2016/KDTM-ST ngày 19/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc Dân; hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Kim Duyên, ông Lê Văn Hết với bà Lê Thị Trang và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Trang với ông Nguyễn Văn Bình; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1208001/HĐTC ngày 23/01/2009 do bà Nguyễn Thị Kim Duyên đứng tên được bảo đảm để thi hành án.

Trước đó, trong quá trình Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết, ngày 15/8/2015 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Duyên chết. Tòa án tỉnh Long An không đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Duyên vào tham gia tố tụng với lý do họ không có ý kiến gì về việc tặng cho ý quyền sử dụng đất giữa bà Duyên, ông Hết với bà Trang... là không đúng quy định tại Điều 74 Bộ luật TTDS năm 2015. Vì việc xác định hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với bà Duyên, ông Hết bị vô hiệu hay không vô hiệu sẽ liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các đồng thừa kế của bà Duyên, Tòa án không đưa họ vào tham gia tố tụng là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự.

Vụ “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa nguyên đơn Công ty Phú Gia và bị đơn Công ty Vương Quán do Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án nhưng không đưa ông Chang Chia Ching - là người trực tiếp ký hợp đồng và làm giấy biên nhận thanh toán với Công ty Phú Gia vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ ông Chang Chia Ching ký hợp đồng và làm giấy biên nhận thanh toán với Công ty Phú Gia với tư cách cá nhân hay đại diện cho Công ty Vương Quán? Ngoài ra, trong vụ án này, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh xác định Công ty Yuan Ferng là nhân chứng cũng không đúng quy định Điều 77 Bộ luật TTDS năm 2015, vì nhân chứng phải là thể nhân, không phải là pháp nhân.

Hai bản án nêu trên đã bị hủy toàn bộ để xét xử lại do có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

3. Vi phạm trong việc xác minh, thu thập chứng cứ

Tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Đối chất giữa các đương sự với nhau; Trung cầu giám định; Định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ.

Việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định nếu không thì tài liệu thu thập đó không có giá trị pháp lý.

Việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng và là cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án. Chỉ khi thu thập đầy đủ chứng cứ thì Tòa án mới có đủ căn cứ để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường hợp Tòa án giải quyết vụ án khi chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, dẫn đến giải quyết vụ án sai pháp luật.

- Vụ “Tranh chấp hợp đồng thuê kho bãi” giữa nguyên đơn Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tổng hợp II (Công ty tổng hợp II) với bị đơn Công ty TNHH SXTM Đức Thành (Công ty Đức Thành). Ngoài yêu cầu khởi kiện đòi Công ty Đức Thành chấm dứt hợp đồng, trả tiền cho thuê, Công ty tổng hợp II còn yêu cầu Công ty Đức Thành giao trả tài sản, vật kiến trúc có trên mặt bằng cho thuê. Bị đơn Công ty Đức Thành không đồng ý bàn giao nhà kho, sân bãi, văn phòng vì cho rằng đó là tài sản do bị đơn đầu tư. Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét thẩm định tại chỗ, điều tra, thu thập chứng cứ xác định phần tài sản, vật kiến trúc có trên mặt bằng cho thuê là do nguyên đơn đầu tư phần nào, bị đơn đầu tư phần nào và không tiến hành định giá tài sản trên đất, đã tuyên xử vừa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vừa cho bị đơn được tháo dỡ, di dời toàn bộ vật kiến trúc có trên mặt bằng phải giao là mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc thi hành án nên bị Tòa án cấp cao hủy bản án để giải quyết lại.

- Vụ “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng vốn góp” giữa nguyên đơn ông Kuo, Hui Tung với bị đơn ông Kuo, His Tung; bà Nguyễn Thị Phi Loan; Công ty TNHH MTV sản xuất Thuận Viên (người đại diện của Công ty là bà Nguyễn Thị Phi Loan). Hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn ông Kuo, Hui Tung có chuyển số tiền 6.000.000 Đài tệ vào tài khoản của ông Kuo, His Tung thông qua Ngân hàng thương mại Chương Hóa tại Đài Loan ngày 01/3/2001 để thực hiện việc góp vốn. Tuy nhiên bị đơn cho rằng đã chuyển trả số tiền này cho ông Kuo, Hui Tung ngay sau đó vào ngày 06/3/2001. Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử bác đi tư cách thành viên của nguyên đơn trong khi chưa điều tra làm rõ tại sao bị đơn lại chuyển trả số tiền góp vốn cho nguyên đơn, số tiền 6.000.000 Đài tệ mà bị đơn chuyển trả đúng là số tiền để trả cho tiền góp vốn của nguyên đơn hay là để trả nợ và quy định của pháp luật có cho phép bị đơn tự ý chuyển trả lại vốn góp cho nguyên đơn hay không, là chưa thỏa đáng, không phù hợp với quy định của pháp luật.

- Vụ “Tranh chấp giữa các thành viên công ty”, nguyên đơn ông Trần Gia Khánh, là thành viên góp vốn tỷ lệ 32,14% trong Công ty TNHH Thương mại sản xuất Ca Đay (Công ty Ca Đay) không đồng ý việc bị đơn ông Chiang Chin Chuang, thành viên góp vốn tỷ lệ 67,86% trong Công ty Ca Đay chuyển nhượng 02% phần vốn góp cho bà Fletcher Yuek Nam Sandy không phải là thành viên Công ty và bổ nhiệm làm người đại diện theo pháp luật, khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Chiang Chin Chuang và bà Sandy có trách nhiệm đăng ký hủy bỏ phần thay đổi thành viên Công ty, tỷ lệ vốn góp và người đại diện theo pháp luật. Giải quyết vụ kiện, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh không thu thập chứng cứ như: Điều lệ Công ty Ca Đay..., đã tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn ông Chiang Chin Chuang hủy bỏ phần thay đổi thành viên Công ty, tỷ lệ vốn góp và người đại diện theo pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xuất trình bản sao Điều lệ Công ty Ca Đay có nội dung Điều 7 quy định: “Việc chuyển nhượng phần hùn được ưu tiên thực hiện giữa các thành viên. Nếu chuyển nhượng cho người ngoài công ty phải được đa số thành viên chấp thuận, việc chuyển nhượng phần hùn phải lập bằng cấp chứng thư và được ghi vào sổ biên bản lưu giữ tại trụ sở Công ty...”. Như vậy, căn cứ vào Điều lệ Công ty Ca Đay này thì rõ ràng việc ông Chiang Chin Chuang chuyển nhượng phần góp vốn cho bà Fletcher Yuek Nam Sandy là vi phạm.

Vụ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Việt Á với bị đơn là các bà Phạm Ngọc Bích, Thái Thị Thanh Thúy, Thái Thị Thanh Tuyền, Phạm Ngọc Dung và ông Nguyễn Đình Bảo. Trong quá trình giải quyết vụ án, kể cả tại phiên tòa sơ thẩm bà Thái Thị Thanh Thúy đã trình bày trên phần đất 1.200 mỉ mà bà Thu thế chấp cho Ngân hàng TMCP Việt Á có căn nhà cấp 4 của bà Thủy đã xây dựng và sử dụng từ trước khi bà Thu thế chấp phần đất cho Ngân hàng. Thế nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thẩm định tại chỗ và điều tra làm rõ căn nhà cấp 4 trên có từ khi nào? của ai? Khi thế chấp bên nhận thế chấp và bên thế chấp có thỏa thuận gì đối với tài sản này hay không? Để từ đó mới có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã không làm rõ các vấn đề trên mà lại tuyên trường hợp nếu các đồng thừa kế của bà Thu không trả được cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi thì sẽ phát mãi tài sản bà Thu đã thế chấp trên có cả căn nhà cấp 4 nhưng không giải quyết bà Thúy và các thành viên trong hộ có phải di dời hay không thì khó khả thi trong quá trình thi hành án.

Bốn bản án nêu trên đã bị Tòa phúc thẩm hủy toàn bộ để Tòa sơ thẩm giải quyết lại do thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ và tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.

4. Vi phạm trong việc áp dụng pháp luật

- Vụ “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Hương với bị đơn Công ty cổ phần thương mại - Đại lý Dầu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được Tòa án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thụ lý giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu triệu tập hợp lệ 03 lần nhưng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Hương vắng mặt không có lý do nên Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 4 Điều 417 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Trong vụ án này, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Hoa chưa có ý kiến mà Tòa án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng với khoản 4 Điều 417 Bộ luật TTDS năm 2015. Do vậy Tòa án cấp cao đã hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Việc “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài” giữa Công ty Lau Pa Sat Enterprises Limited và Công ty TNHH Cresyn Việt Nam. Tòa án tỉnh Bình Dương đã nhận định: Công ty Lau Pa Sat Enterprises Limited không cung cấp được địa chỉ của Công ty TNHH Cresyn Việt Nam và không cung cấp được địa điểm nơi có tài sản tại Việt Nam của Công ty TNHH Cresyn Việt Nam từ đó ra Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu của Công ty Lau Pa Sat Enterprises Limited là chưa phù hợp pháp luật. Căn cứ điểm đ khoản 3 Điều 457 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định: “Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau đây: ... Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản tại việt Nam của người phải thi hành....” thì Tòa án là chủ thể xác định địa điểm nơi có tài sản tại Việt Nam của người phải thi hành theo yêu cầu của người được thi hành phán quyết trọng tài.

5. Vi phạm trong việc nhận định và đánh giá chứng cứ không đúng

- Vụ “Tranh chấp hợp đồng đầu tư và hợp đồng kinh tế” giữa nguyên đơn Công ty Luks Realty Investments Limited (Công ty Luks) và bị đơn Công ty cổ phần Việt Liên Á (Công ty Việt Liên Á). Theo lời khai và tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp thì Công ty Luks không có thỏa thuận hay cam kết gì với Công ty Việt Liên Á về thời gian thanh toán tiền nợ. Nhưng khi giải quyết vụ kiện, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên buộc ấn định thời hạn để Công ty Việt Liên Á trả cho Công ty Luks “... khi dự án đầu tư, xây dựng, phát triển, khai thác bán, cho thuê khu dân cư nhà ở..... được đền bù xong và đưa vào kinh doanh thì công ty Việt Liên Á ưu tiên trả cho Luks trước” là trái với ý chí của Công ty Luks vì Cổng ty Luks không có thỏa thuận nội dung này và không đúng quy định của Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án dân sự quy định trong quá trình thi hành án các bên có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án. Tòa án không có quyền tuyên thời gian và điều kiện để thi hành án nếu hai bên không có thỏa thuận.

- Vụ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng - Thương mại - Dịch vụ Gia Nguyễn (Công ty Gia Nguyễn) “Yêu cầu mở thủ tục phá sản” đối với Công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp (Công ty Công Nghiệp). Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ tài liệu chứng cứ chứng minh Công ty Công nghiệp đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Gia Nguyễn, từ đó nhận định Công ty Công Nghiệp mất khả năng thanh toán và ra Quyết định mở thủ tục phá sản đối với Công ty Công nghiệp. Căn cứ khoản 2 Điều 42 Luật phá sản năm 2014 quy định: Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Tại Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2017 của Công ty Công Nghiệp thể hiện tổng tài sản có 2.232.193.107.916 đồng, tổng tài sản nợ 1.739.027.715.500 đồng, chênh lệch giữa tài sản có với tài sản nợ dương 493.165.392.416 đồng. Do đó, Công ty Công Nghiệp tuy có chậm thanh toán nợ cho Công ty Gia Nguyễn, nhưng không phải mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 42 của Luật phá sản năm 2014. Vì vậy Tòa án cấp cao đã tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của Công ty Công Nghiệp, hủy Quyết định mở thủ tục phá sản theo đề nghị Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Ngoài ra còn có những dạng vi phạm khác như: không đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đương sự đã rút, Tòa án xác định hợp đồng vô hiệu nhưng không xác định lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu; không xác định thiệt hại do hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; tính lãi không đúng...

Trên đây là một số những căn cứ, lý do Tòa án cấp cao xử hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh trong khu vực. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thông báo để Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp./.