Nguồn án lệ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 78/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 78/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 78/2023/DS-GĐT ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C và hủy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện TL đối với vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Nội dung hủy án:
“[3] ...
Lẽ ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải làm rõ, xem xét tính hợp pháp, có căn cứ, tính có hiệu lực của các quyết định hành chính và đối chiếu các quy định của pháp luật để xem xét hủy quyết định cá biệt nào trái pháp luật của của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết mới đúng quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp Quyết định số 327/QĐ.UB ngày 22/8/1995 của UBND huyện OM, tỉnh C có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải xem xét, đánh giá thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự “Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của… cơ quan nhà nước có thẩm quyền…”, từ đó xem xét, quyết định việc áp dụng hay không áp dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo đúng quy định của pháp luật.
Trên cơ sở nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Về Quyết định 327/QĐ.UB ngày 22/8/1995 của UBND quận OM (cũ), quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ làm rõ về lý do ban hành cũng như việc triển khai, thi hành Quyết định thì cơ quan có thẩm quyền liên quan không còn lưu trữ hồ sơ nên không có cơ sở xem xét Quyết định 327 này được ban hành trên cơ sở nào, đã được triển khai cho các đương sự hay chưa và cho đến nay cũng chưa có cơ sở khẳng định phía nguyên đơn biết được Quyết định 327 này, do đó Quyết định này không là căn cứ để giao đất cho phía bị đơn”. Nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng quy định của pháp luật.
Do vụ án liên quan đến việc hủy quyết định cá biệt là quyết định hành chính về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai của UBND cấp huyện nên căn cứ khoản 4 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm, giao vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thẩm quyền.
[4] Về việc định giá tài sản tranh chấp: Tại Biên bản định giá tài sản ngày 22/8/2019 của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện: “các thành viên Hội đồng định giá thống nhất…phần đất tranh chấp tại thửa 80 nêu trên có giá 70.000 đồng/m2 = 917.000.000 đồng”. Biên bản định giá không thể hiện Hội đồng định giá xác định giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là Nhà nước hay giá thị trường. Quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ nội dung này để giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự.”