Nguồn án lệ về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu (Quyết định giám đốc thẩm số 74/2024/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT VÔ HIỆU (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 74/2024/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 74/2024/DS-GĐT ngày 21/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu
Nội dung hủy án:
“[3] Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm là không có cơ sở, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình, bởi lẽ giao dịch thứ nhất bị vô hiệu, nhưng các giao dịch tiếp sau đó có hiệu lực pháp luật và hiện nay ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị G đang là người quản lý, sử dụng nhà đất nêu trên. Quá trình giải quyết vụ án, các bên không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, nên không cần phải làm rõ thực trạng về tài sản tranh chấp. Bản án phúc thẩm cho rằng cần thu thập chứng cứ có sửa chữa nhà hay không là không cần thiết, bởi đương sự chưa chứng minh được có hay không việc đầu tư sửa nhà, nếu sửa trước 2015 thì đã được tính vào giá trị chuyển nhượng, còn sau 2015 thì không thể do ông T bà G đã quản lý nhà đất. Việc các đương sự khởi kiện hay rút đơn khởi kiện là quyền của các đương sự, đồng thời đã rút đơn nên tranh chấp đã dừng lại, nên bà D ông Q có quyền chuyển nhượng cho người khác.
[4] Từ phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (cụ S, ông C và bà L), tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, giữa bên chuyển nhượng là cụ Nguyễn Thị S với bên nhận chuyển nhượng là ông Biện Thanh H, bà Nguyễn Thị N1 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, giữa bên chuyển nhượng là ông Phạm Thành C, bà Đào Thị L với bên nhận chuyển nhượng ông là Biện Thanh H, bà Nguyễn Thị N1 là vô hiệu; đồng thời, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng tiếp theo sau là có căn cứ. Việc tuyên xử như bản án sơ thẩm là hợp lý, đúng với quy định bảo vệ người thứ ba ngay tình, bảo vệ sự ổn định đối với các giao dịch dân sự hợp pháp, ổn định xã hội. Do bản án phúc thẩm nêu các căn cứ để huỷ án sơ thẩm không có căn cứ pháp luật và không hợp lý; vì vậy, cần chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 31/2024/KN-DS ngày 23/8/2024 của Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để huỷ bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm.”