Công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào? Những thay đổi nào phải được chấp thuận hoặc phải thông báo?
Công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào? Những thay đổi nào phải được chấp thuận hoặc phải thông báo?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu các quy định pháp luật sau khi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm hoặc chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động để chuẩn bị thực hiện đúng nghĩa vụ pháp lý. Tôi được biết sau khi được cấp phép, đơn vị còn phải thực hiện việc công bố nội dung giấy phép và trong quá trình hoạt động nếu có thay đổi một số nội dung thì phải xin chấp thuận hoặc thông báo với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, tôi chưa rõ việc công bố được thực hiện như thế nào và những thay đổi nào bắt buộc phải được chấp thuận hoặc phải thông báo. Vì vậy, tôi muốn hỏi công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào? Những thay đổi nào phải được chấp thuận hoặc phải thông báo? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn!
MỤC LỤC
2. Những thay đổi nào phải được chấp thuận hoặc phải thông báo?
Trả lời:
1. Công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?
Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, việc công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động có vai trò quan trọng trong bảo đảm tính công khai, minh bạch của thị trường. Do đó, pháp luật đã nêu cụ thể trách nhiệm công bố thông tin của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhằm giúp tổ chức, cá nhân liên quan dễ dàng tiếp cận, giám sát và giao dịch an toàn tại Điều 72 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 72. Công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động
1. Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung của giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cấp giấy phép.
2. Ít nhất 30 ngày trước ngày chính thức hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải công bố các nội dung của giấy phép và ngày dự kiến chính thức hoạt động trên 01 tờ báo in trong 03 số liên tiếp hoặc trên báo điện tử của Việt Nam.”
Theo đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung của giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cấp giấy phép, nhằm bảo đảm thông tin chính thức được đăng tải công khai từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Không những vậy, ít nhất 30 ngày trước ngày chính thức hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải công bố các nội dung của giấy phép và ngày dự kiến chính thức hoạt động trên 01 tờ báo in trong 03 số liên tiếp hoặc trên báo điện tử của Việt Nam. Đây là nghĩa vụ công khai thông tin của chính doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động.
Như vậy, việc công bố nội dung giấy phép được thực hiện theo hai cấp độ: công bố bởi cơ quan quản lý nhà nước và công bố bởi chính doanh nghiệp được cấp phép. Cơ chế này giúp bảo đảm thông tin được lan tỏa rộng rãi, minh bạch và dễ tiếp cận đối với công chúng.
Có thể thấy, quy định về công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường bảo hiểm. Đồng thời, đây là cơ sở giúp khách hàng, đối tác và nhà đầu tư nhận biết các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp để yên tâm giao dịch. Việc công khai thông tin còn góp phần nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và hiệu quả giám sát của cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, điều này thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh và hạn chế các rủi ro phát sinh trên thị trường. Qua đó góp phần xây dựng thị trường bảo hiểm Việt Nam ổn định, an toàn và phát triển bền vững.
2. Những thay đổi nào phải được chấp thuận hoặc phải thông báo?
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể phát sinh nhiều thay đổi liên quan đến tổ chức, vốn, nhân sự và phạm vi kinh doanh. Vì vậy, pháp luật đã nêu rõ những trường hợp phải được chấp thuận trước hoặc phải thông báo cho cơ quan quản lý nhằm bảo đảm tính minh bạch và an toàn của thị trường bảo hiểm. Cụ thể tại Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2025 như sau:
“Điều 74. Những thay đổi phải được chấp thuận hoặc phải thông báo
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thay đổi một trong các nội dung sau đây:
a) Tên, địa điểm đặt trụ sở chính;
b) Mức vốn điều lệ; vốn được cấp;
c) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;
d) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
đ) Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán;
e) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;
g) Đầu tư ra nước ngoài, bao gồm việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung thay đổi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo cho Bộ Tài chính bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có những thay đổi sau đây:
a) Thay đổi điều lệ hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b) Mở, chấm dứt, thay đổi tên, địa điểm chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
c) Mở, chấm dứt, thay đổi địa điểm kinh doanh;
d) Thay đổi các chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
4. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các thay đổi quy định tại khoản 1 và hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi nhận các thay đổi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.”
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thay đổi một trong các nội dung sau đây:
- Tên, địa điểm đặt trụ sở chính;
- Mức vốn điều lệ; vốn được cấp;
- Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;
- Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
- Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán;
- Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;
- Đầu tư ra nước ngoài, bao gồm việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi nêu trên, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung thay đổi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo cho Bộ Tài chính bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có những thay đổi sau đây:
- Thay đổi điều lệ hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
- Mở, chấm dứt, thay đổi tên, địa điểm chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
- Mở, chấm dứt, thay đổi địa điểm kinh doanh;
- Thay đổi các chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Ngoài ra, pháp luật còn giao cho Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các thay đổi quy định tại khoản 1 và hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi nhận các thay đổi quy định tại điểm b khoản 3 Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022.
Như vậy, những nội dung về những thay đổi phải được chấp thuận hoặc phải thông báo có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm sau khi được cấp phép. Đồng thời, đây là cơ sở giúp cơ quan quản lý kịp thời nắm bắt biến động về tổ chức, tài chính và sở hữu để phòng ngừa rủi ro phát sinh. Việc giám sát các thay đổi còn góp phần bảo vệ quyền lợi của khách hàng, cổ đông và các bên liên quan. Bên cạnh đó, quy định này giúp duy trì tính minh bạch, ổn định và cạnh tranh lành mạnh trên thị trường bảo hiểm. Qua đó thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển an toàn và bền vững.
Trân trọng./.