NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP CHUỘC LẠI TÀI SẢN ĐÃ BÁN VÀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 75/2024/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 75/2024/DS-GĐT ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Đình về việc tranh chấp chuộc lại tài sản đã bán và tranh chấp hợp đồng thuê nhà

Nội dung hủy án:

“[3]. Tại Bảng sao kê lịch sử cuộc gọi của bà Trần Thị T (bút lục số 134- 137) thể hiện: Vào các tháng 9, 10, 11 năm 2016, bà T có gọi nhiều cuộc điện cho bà G; tại Biên bản xác minh ngày 05-9-2017 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (bút lục số 120), bà Phạm Thị Thanh B - Trưởng Văn phòng C2 cung cấp:“… Ngồi tại Văn phòng C2, bà Trần Thị T liên lạc với bà Nguyễn Thị G, nhưng bà G không nghe điện thoại. Thấy bà T ngồi chờ lâu, nên tôi có gọi vào máy bà G, bà G nghe điện thoại… tôi có nói với bà G về việc bà T đã đủ tiền chuộc lại nhà 66 C, thành phố Q và nói bà G đến Văn phòng của tôi để ký văn bản hủy Văn bản thỏa thuận ngày 28-11-2014 nhưng chị G trả lời tôi: để em gặp chị T từ từ giải quyết…”; tại Biên bản xác minh ngày 03-12-2020, tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Q, ông Cao Quang T2 - Cán bộ tư pháp cung cấp (bút lục số 346): “Ngày 15-11-2016, Ủy ban nhân dân phường Đ đã nhận đơn đề nghị đề ngày 15-11-2016 của bà Trần Thị T nộp trực tiếp đến phường. Nội dung yêu cầu của bà T là yêu cầu bà Nguyễn Thị G thực hiện đúng như nội dung đã cam kết tại Văn bản thỏa thuận ngày 28-11-2014 để bà T chuộc lại ngôi nhà tại F C, thành phố Q...”; tại Biên bản xác minh ngày 03-12-2020 tại Công an phường Đ, thành phố Q, ông Mong Đức T3 - Trưởng Công an phường cung cấp (bút lục số 347): “Ngày 16-11-2016, vào lúc 11 giờ, bà Trần Thị T có đến Công an phường Đ, thành phố Q gặp tôi báo cáo với tôi là nhờ Công an phường Đ can thiệp để vợ chồng bà T chuộc nhà gì đó…”.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định trước khi hết thời hạn chuộc nhà, đất (tức trước ngày 28-11-2016), bà Trần Thị T đã nhiều lần gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thị G để chuộc lại nhà, đất nhưng bà G không nghe điện thoại; bà T thể hiện ý chí chuộc lại nhà nên đã gọi điện thoại cho bà G, trình báo cơ quan chức năng, chính quyền địa phương can thiệp; lời khai này của bà T phù hợp với lời trình bày của bà Phạm Thị Thanh B - Trưởng Văn phòng C2, lời trình bày của ông Cao Quang T2 - Cán bộ tư pháp phường Đ, thành phố Q và lời trình bày của ông Mong Đức T3 - Trưởng Công an phường Đ, thành phố Q. Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị G cũng thừa nhận bà Trần Thị T có liên hệ với bà (Gái) để chuộc lại nhà, đất nhưng cho rằng đã hết thời hạn theo thỏa thuận, bà không cho chuộc.

Từ các căn cứ nêu trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T và ông Đào Văn C, buộc bà Nguyễn Thị G cho bà T và ông C chuộc lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 66 C, thuộc thửa đất số 336, tổ A, khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định là đúng pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bà Trần Thị T không thông báo trước cho bà Nguyễn Thị G để chuộc lại nhà, đất trong một thời gian hợp lý, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T và ông Đào Văn C về việc chuộc lại nhà, đất đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.”